Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Về sùng bái cá nhân (II)


Báo cáo của Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương (BCHTW) Đảng cộng sản Liên Sô (ĐCSLS), Nikita Sergeevich Khrushyov tại phiên họp kín đại hội ĐCSLX lần thứ XX ngày 25 tháng Hai năm 1956.
Phạm Ngọc dịch từ tiếng Nga

Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó (tt)

Một ví dụ điển hình cho sự khiêu khích đê tiện, sự man trá thâm độc và sự vi phạm tội lỗi nền pháp chế cách mạng là vụ án của đồng chí Eikhe, cựu ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, một nhà hoạt động lỗi lạc của đảng và nhà nước Sô-viết, gia nhập đảng từ năm 1905. (Xôn xao trong phòng họp.)
Đồng chí Eikhe bị bắt ngày 29-4-1938 trên cơ sở những tài liệu vu khống, không có lệnh bắt của viện kiểm sát Liên Xô, trát này chỉ có sau khi Eikhe đã bị bắt 15 tháng!
Việc điều tra hồ sơ Eikhe được thực hiện trong tình huống vi phạm thô bạo nhất nền pháp chế Sô-viết, trong tình trạng chuyên quyền và ngụy tạo trắng trợn nhất.
Không chịu nổi đòn tra tấn, Eikhe buộc phải kí biên bản hỏi cung do các cán bộ điều tra soạn sẵn, trong đó đồng chí và một số cán bộ đảng và nhà nước có uy tín khác bị buộc tội hoạt động chống phá chính quyền Sô-viết.
Ngày 1-10-1939, Eikhe gửi Stalin đơn khiếu nại, trong đó đồng chí kiên quyết phủ nhận lời buộc tội và đề nghị thẩm tra lại trường hợp của mình. Trong đơn Eikhe viết:
"Không còn gì đau khổ cay đắng hơn là bị giam cầm trong ngục tù của chính chế độ mà tôi đã luôn luôn đấu tranh để xây dựng nó".
Đơn khiếu nại thứ hai của Eikhe gửi Stalin ngày 27-10-1939 cũng được lưu trữ, trong đó đồng chí nêu ra những bằng chứng và phủ nhận một cách xác đáng lời buộc tội vu khống. Đồng chí chỉ rõ lời buộc tội mang tính khiêu khích này, một mặt, là sản phẩm của bọn Trotskit thực thụ, vì chính đồng chí trên cương vị bí thư thứ nhất thành ủy Tây Siberia đã kí lệnh bắt giam chúng, do đó chúng âm mưu trả thù, mặt khác, đó là kết quả của việc ngụy tạo hồ sơ điều tra một cách bẩn thỉu.
Eikhe đã viết trong đơn :
"Ngày 25-10 năm nay, người ta thông báo với tôi về việc kết thúc điều tra trường hợp của tôi và cho tôi khả năng làm quen với những tài liệu điều tra. Nếu như tôi phạm tội, dù chỉ một phần trăm những tội ác mà người ta đã gán cho tôi, thì đã chẳng bao giờ tôi dám gửi đến đồng chí đơn này trước khi tôi chết, nhưng tôi không hề phạm một tội gì trong tất cả những tội ác hình sự mà người ta gán cho tôi và lương tâm tôi không hề gợn một vết nhơ. Trong đời mình chưa bao giờ tôi nói với đồng chí một lời nào sai sự thật, và kể cả bây giờ, khi hai chân tôi sắp sửa bước xuống mồ, tôi cũng dối trá đồng chí một lời. Trường hợp của tôi là điển hình của một cuộc khiêu khích, vu khống và vi phạm những điều căn bản nhất của nền pháp chế cách mạng...
... Những điều "vạch mặt" ghi trong hồ sơ vụ án của tôi chẳng những phi lí mà nó chứa đựng hàng loạt vu khống đối với BCHTW ĐCS (bôn-sê-vich) và Hội đồng dân ủy, bởi vì những nghị quyết đúng đắn của BCHTW và của Hội đồng dân ủy được thông qua vốn chẳng phải do sáng kiến của tôi hoặc với sự tham gia của tôi, đã được trình bày như hành động thù địch của một tổ chức phản cách mạng do tôi khởi xướng...
Bây giờ tôi xin đề cập đến những trang nhục nhã nhất của quyển sách đời tôi, một tội lỗi thực sự nặng nề ray rứt nhất của tôi trước đảng và trước đồng chí. Đó là lời thú tội của tôi về hoạt động phản cách mạng... Sự việc là thế này: vì không chịu đựng nổi đòn tra tấn của Ushakov và Nikolaev, nhất là Ushakov đã khéo léo lợi dụng việc tôi bị gãy cột sống và xương chưa kịp liền lại, trong quá trình hỏi cung, đã làm tôi đau đớn khủng khiếp đến mức không chịu đựng nổi và ép tôi phải tự vu khống bản thân mình và vu khống những đồng chí khác.
Phần lớn những lời thú tội của tôi là do Ushakov mớm cung hoặc đọc cho tôi viết, phần còn lại là do tôi chép lại theo trí nhớ tài liệu của NKVD vùng Tây Siberia mà tôi phải tự gán những sự kiện trong tài liệu của NKVD cho chính mình. Nếu trong truyền thuyết do Ushakov thêu dệt và tôi phải kí nhận có gì đó không khớp, thì người ta lại bắt tôi kí nhận một phương án khác. Xảy ra như vậy đối với Rukhimovich, thoạt tiên người ta viết là thuộc mạng lưới dự bị, sau đó người ta gạch đi, không hề nói cho tôi biết, tương tự đối với chủ tịch mạng lưới dự bị, tuồng như do Bukharin thành lập năm 1935. Đầu tiên tôi phải ghi mình là lãnh đạo, sau đó người ta bảo tôi phải viết tên Mezhlauk, và còn nhiều thứ khác...
... Tôi đề nghị đồng chí, tôi van xin đồng chí hãy chỉ đạo xem xét lại trường hợp của tôi, chẳng phải vì tôi mong muốn được tha thứ, mà để vạch mặt âm mưu khiêu khích đê tiện này, nó như con rắn cuốn lấy nhiều người do sự yếu hèn của tôi và sự vu khống đầy tội lỗi. Tôi thề không bao giờ phản bội đồng chí, phản bội đảng. Tôi biết tôi sắp phải hi sinh vì hành động hèn hạ, đê tiện, do kẻ thù của đảng và của nhân dân sắp đặt ra những thủ đoạn khiêu khích để chống lại tôi". (Hồ sơ Eikhe, tập 1).
Thiết tưởng, một lá đơn quan trọng như thế chắc chắn phải được bàn bạc trong BCHTW. Nhưng điều đó đã không xảy ra, đơn được chuyển đến tay Beria và đồng chí Eikhe, cựu ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, vẫn bị tiếp tục tra tấn tàn nhẫn.
Ngày 2-2-1940 diễn ra phiên tòa xử Eikhe. Trước tòa, Eikhe không nhận bất cứ một tội nào và tuyên bố như sau:
"Trong tất cả cái gọi là lời thú tội của tôi, không một chữ nào được gọi là của tôi, ngoại trừ chữ kí ở dưới tờ biên bản mà người ta dùng nhục hình để buộc tôi phải kí. Những lời thú tội được viết ra dưới sự ép buộc của an ninh điều tra, là kẻ đã hành hạ tôi từ ngày tôi bị bắt. Sau đó, tôi bắt đầu viết tất cả những điều ngớ ngẩn này... Điều chủ yếu với tôi bây giờ là phải tuyên bố trước tòa, trước đảng và trước Stalin: tôi vô tội. Tôi không bao giờ tham gia một âm mưu nào. Tôi sẽ chết với niềm tin ở chính sách đúng đắn của đảng, cũng như tôi đã tin tưởng trong suốt cuộc đời hoạt động của tôi". (Hồ sơ Eikhe, tập 1).
Eikhe bị xử bắn ngày 4-2. (Phẫn nộ trong phòng họp.) Hiện nay, không còn nghi ngờ gì nữa, đã xác định được vụ án Eikhe hoàn toàn bịa đặt, đồng chí đã được minh oan và phục hồi danh dự sau khi chết!
Trước tòa án, đồng chí Rudzutak, ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, đảng viên từ năm 1905, người đã từng bị 10 năm khổ sai dưới chế độ Sa hoàng, cũng phủ nhận toàn bộ những lời thú tội bị ép cung của mình. Trong biên bản xử án của Tòa quân sự tối cao đã ghi lại tuyên bố của Rudzutak như sau:
"... Đề nghị duy nhất của bị cáo trước tòa - thông báo cho BCHTW ĐCS (bôn-sê-vich) biết rằng tại NKVD còn tồn tại một khối ung nhọt chưa được tiêu diệt tận gốc rễ, chuyên chế tạo các hồ sơ vụ án để buộc những kẻ vô tội phải thú nhận những tội họ chưa bao giờ vi phạm. Hoàn toàn không hề có việc thẩm tra các tình huống phạm tội và các bị cáo không hề có được một cơ hội nào để chứng minh tình trạng ngoại phạm của mình đối với những tội danh mà họ bị ép buộc phải thú nhận hoặc do người khác khai ra. Những phương pháp điều tra như thế đã ép buộc người bị hỏi cung phải bịa ra và vu khống cho những người vô tội, chưa kể việc tự bịa ra những tội cho chính bản thân mình. Bị cáo yêu cầu tòa cho phép được viết thư cho BCHTW. Bị cáo cam đoan với tòa rằng bản thân mình không hề có bất kì một ý đồ xấu xa nào chống đối lại chính sách của đảng ta, bởi vì bị cáo hoàn toàn đồng tình với chính sách của đảng trong mọi lĩnh vực của công cuộc xây dựng kinh tế và văn hóa".
Lời tuyên bố của Rudzutak đã trôi vào quên lãng, chẳng ai để ý đến, mặc dù vào thời của mình đồng chí là chủ tịch Ủy ban kiểm tra trung ương, được thành lập theo ý tưởng của Lenin để đấu tranh vì sự thống nhất của đảng. Người đứng đầu một cơ quan cao cấp, đầy uy tín của đảng đã trở thành vật hi sinh cho sự chuyên quyền bạo ngược như thế đấy: người ta cũng chẳng thèm gọi đồng chí đến chất vấn tại Bộ Chính trị, Stalin không muốn nói chuyện với đồng chí. Bản án tử hình được đưa ra trong vòng 20 phút và đồng chí bị xử bắn. (Xôn xao phẫn nộ trong phòng họp.)
Việc thẩm tra kĩ lưỡng trường hợp này tiến hành vào năm 1955, đã xác định hồ sơ buộc tội Rudzutak hoàn toàn ngụy tạo và đồng chí bị tuyên án trên cơ sở những tài liệu mang tính vu khống. Đồng chí đã được minh oan và phục hồi danh dự sau khi chết!
Bằng phương pháp khiêu khích giả tạo như thế nào, những cựu nhân viên NKVD đã sáng chế ra những "trung tâm" và những "khối liên kết" chống phá nhà nước Sô-viết - được thấy rõ từ lời "thú tội" của đồng chí Rozenblyum, đảng viên từ năm 1906, bị NKVD thành phố Leningrad bị bắt năm 1937.
Trong quá trình thẩm tra lại vụ án Komarov vào năm 1955, Rozenblyum đã cho biết sự kiện sau: khi bị bắt vào năm 1937, đồng chí đã phải chịu đựng tra tấn dã man và buộc phải thú nhận những tội bịa đặt về bản thân cũng như về một số người khác. Sau đó Rozenblyum được đưa đến văn phòng của Zakovsky và được đề nghị trả tự do với điều kiện: trước tòa đồng chí chịu thú nhận một cách dối trá về "vụ án trung tâm khủng bố, phá hoại, gián điệp, gây rối Leningrad" do NKVD bịa đặt ra năm 1937. (Xôn xao trong phòng họp.) Với một thái độ vô liêm sỉ không thể tưởng tượng nổi, Zakovsky đã phơi bày một "bộ máy" hèn hạ chuyên chế tạo những "âm mưu chống nhà nước Sô-viết".
"Để dễ hình dung - Rozenblyum thuật lại - Zakovsky đã vạch ra cho tôi một số phương án của sơ đồ tổ chức giả định cái "trung tâm" này và các chi nhánh của nó...
Sau khi giới thiệu với tôi những sơ đồ tổ chức, Zakovsky nói NKVD đang chuẩn bị hồ sơ về trung tâm này và vụ án sẽ được xét xử công khai.
Người ta sẽ đưa ra tòa những lãnh đạo của trung tâm, 4-5 người: Chudov, Ugarov, Smorodin, Pozern, Shaposhnikova (vợ của Chudov) và những người khác, và 2-3 người từ mỗi chi nhánh...
... Hồ sơ vụ án trung tâm Leningrad phải được sắp đặt một cách hoàn hảo. Lời khai của các nhân chứng có ý nghĩa quyết định. Địa vị xã hội (trong quá khứ, tất nhiên) và tuổi đảng của những nhân chứng đóng một vai trò không nhỏ.
Bản thân anh - Zakovsky bảo - chẳng phải đặt chuyện gì cả. NKVD sẽ chuẩn bị sẵn cho anh một bản tóm tắt riêng biệt về mỗi chi nhánh, việc của anh là học thuộc lòng và ghi nhớ kĩ mọi câu hỏi và câu trả lời mà tòa có thể đặt ra cho anh. Hồ sơ vụ này sẽ được chuẩn bị trong vòng 4-5 tháng hoặc nửa năm. Anh phải tranh thủ thời gian để chuẩn bị, đừng để hậu quả tai hại cho bản thân. Số phận của anh sắp tới sẽ phụ thuộc vào tiến trình và kết quả của phiên tòa. Nhầm lẫn và khai báo sai - còn mỗi nước là tự trách mình. Vượt qua thử thách - nghĩa là giữ được cái bắp cải (cái đầu), nhà nước sẽ chu cấp cho anh đến cuối đời". (Tài liệu thẩm tra vụ án Komarov, tờ 60-69.)
Thế đấy, những việc đê tiện đã được dàn dựng thời bấy giờ. (Xôn xao trong phòng họp.)
Ở các tỉnh, việc giả mạo hồ sơ điều tra còn phổ biến rộng rãi hơn nhiều. Sở công an tỉnh Sverdlovsk đã "phát hiện" một tổ chức mang tên "Bộ tham mưu phong trào khởi nghĩa vùng Ural - cơ quan của khối hữu khuynh, Trotkist, xã hội cách mạng, giáo hội" dưới sự lãnh đạo chừng như là của Kabakov, bí thư đảng ủy tỉnh Sverdlovsk, ủy viên BCHTW ĐCSLX, vào đảng từ năm 1914. Theo số liệu của hồ sơ điều tra thời ấy cho thấy trong hầu hết các vùng, các tỉnh, các nước cộng hòa đều tồn tại những tổ chức dường như có chi nhánh rộng khắp "các tổ chức và trung tâm gián điệp, khủng bố, biệt kích, phá hoại của bọn Trotskist hữu khuynh", và như một quy luật, những "tổ chức" và "trung tâm" này, không rõ lí do gì, toàn do các bí thư thứ nhất đảng ủy tỉnh, vùng, hay BCHTW nước cộng hòa lãnh đạo. (Xôn xao trong phòng họp.)
Hậu quả của vụ việc giả tạo quái vật những "hồ sơ" tương tự như vậy là hàng nhiều ngàn chiến sĩ cộng sản trung kiên vô tội đã bị giết hại do người ta tin vào những lời "thú tội" mang tính vu khống, bị ép buộc phải tự gán cho chính mình và cho những người khác. Bằng cách đó, người ta chế tạo các "hồ sơ" để chống lại những nhà hoạt động ưu tú của đảng và nhà nước như Kosior, Chubar, Postysev, Kosariov và nhiều người khác.
Trong những năm đó, những cuộc đàn áp vô căn cứ được tiến hành với quy mô lớn, hậu quả là đảng bị tổn thất nghiêm trọng về mặt nhân sự.
Một thực tế thối nát được hình thành, tại cơ quan NKVD những danh sách được lập sẵn, hồ sơ của những người trong danh sách được tòa quân sự xem xét, và mức án cũng đã được xác định sẵn. Những danh sách này do Ejov đích thân trình lên Stalin để phê chuẩn mức án đề xuất. Vào những năm 1937-1938, 383 danh sách loại ấy được trình lên Stalin, trong đó gồm nhiều ngàn cán bộ đảng, nhà nước, đoàn thanh niên cộng sản, quân đội, các tổ chức kinh tế, và đã được phê duyệt.
Một phần đáng kể các hồ sơ ấy hiện đang được thẩm tra lại và đa số đã bị bác bỏ vì vô căn cứ và ngụy tạo. Đủ cơ sở để nói rằng từ năm 1954 đến nay, Tòa quân sự tối cao đã minh oan và phục hồi danh dự cho 7679 người, trong đó nhiều người được phục hồi sau khi chết!
Việc bắt bớ hàng loạt cán bộ đảng, nhà nước, quân đội, tổ chức kinh tế đã gây tổn thất vô cùng to lớn cho đất nước ta và cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Những vụ đàn áp hàng loạt đã ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng đạo đức chính trị của đảng, gây mất niềm tin, góp phần phổ biến nghi ngờ bệnh hoạn, gieo rắc sự ngờ vực lẫn nhau giữa những người cộng sản. Bọn vu khống và hãnh tiến đủ loại có cơ hội phát triển.
Nghị quyết của hội nghị toàn thể BCHTW ĐCSLX vào tháng 1-1938 phần nào đã cải thiện các tổ chức đảng. Nhưng đàn áp trên diện rộng vẫn tiếp diễn trong năm 1938.
Và chỉ do đảng ta có một sức mạnh đạo đức chính trị vĩ đại, nên mới vượt qua được những biến cố nặng nề của những năm 1937-1938, chịu đựng nổi thử thách và bồi dưỡng cán bộ mới. Nhưng không nghi ngờ gì, con đường tiến đến chủ nghĩa xã hội và chuẩn bị quốc phòng còn thành công hơn nhiều, nếu như không có những mất mát to lớn đội ngũ cán bộ, do hậu quả những cuộc đàn áp hàng loạt vô căn cứ và phi nghĩa thời kì 1937-1938.
Chúng ta đúng đắn khi buộc tôi Ejov đồi bại biến chất vào năm 1937. Nhưng cần trả lời câu hỏi: chẳng lẽ Ejov có thể tự động, không báo cáo Stalin, ra lệnh bắt Kosior chẳng hạn? Có sự trao đổi ý kiến hay quyết định của Bộ Chính trị về vấn đề đó hay không? Không, không có, và cũng không có trong những trường hợp tương tự như thế. Chẳng lẽ Ejov có thể tự giải quyết những vấn đề quan trọng như định đoạt vận mệnh của những nhà hoạt động kiệt xuất của đảng? Không, thật ngây thơ nếu cho rằng việc ấy chỉ do mỗi bàn tay của Ejov nhúng vào. Rõ ràng, những việc ấy đều do Stalin quyết định, và nếu không có chỉ thị, không có phê duyệt của Stalin, thì Ejov chẳng thể làm gì.
Giờ đây chúng ta đã xem xét lại và đã phục hồi danh dự cho các đồng chí Kosior, Rudzutak, Postyshev, Kosariov và nhiều đồng chí khác. Căn cứ vào đâu họ bị bắt và bị kết án? Nghiên cứu các tài liệu cho thấy không hề có căn cứ gì cả. Người ta bắt giam họ, cũng như nhiều người khác, không có lệnh bắt của viện kiểm sát. Nhưng trong điều kiện như thế, cũng chẳng đòi hỏi phải có lệnh bắt; lệnh làm gì một khi Stalin đã cho phép. Stalin chính là ủy viên kiểm sát tối cao trong những vụ này rồi. Chẳng những cho phép, mà Stalin còn chỉ thị việc bắt bớ theo sáng kiến của mình. Cần phải nói để các đại biểu đại hội thấy rõ và có thể đưa ra đánh giá đúng đắn và kết luận phù hợp.
Những sự kiện cho thấy nhiều việc lạm dụng đã được thực hiện theo chỉ thị của Stalin, hoàn toàn bỏ qua mọi chuẩn mực pháp chế của đảng và nhà nước Sô-viết. Stalin là một người rất hay ngờ vực với tính đa nghi đến mức bệnh hoạn, chúng tôi khẳng định điều đó qua thời gian làm việc chung. Đồng chí có thể nhìn một người khác rồi hỏi: "sao hôm nay mắt của đồng chí đảo liên tục thế?", hoặc: "sao hôm nay đồng chí cứ lảng đi, không nhìn thẳng vào mắt tôi?". Bệnh đa nghi ấy khiến Stalin có những ngờ vực vô căn cứ, kể cả đối với những nhà hoạt động tiên phong của đảng mà đồng chí đã biết rất nhiều năm. Mọi lúc mọi nơi, Stalin đều nhìn thấy "kẻ thù", "kẻ hai mặt", "bọn gián điệp".
Nắm quyền lực vô biên trong tay, đồng chí cho phép chuyên quyền độc ác, trấn áp người khác về tinh thần và thể xác. Xảy ra tình trạng người ta không dám bày tỏ chính kiến của mình.
Khi Stalin bảo phải bắt người này, suy ra phải tin rằng người đó là "kẻ thù của nhân dân". Còn băng nhóm Beria, cầm đầu cơ quan an ninh nhà nước, cố sống cố chết mà chứng minh tội trạng những người bị bắt, tính hợp lí của các tài liệu do chúng làm giả.Và chứng cớ gì được đưa vào trong quá trình điều tra? Lời "thú tội" của bị cáo. Và an ninh điều tra, làm sao đó thì làm, phải khai thác cho bằng được lời "thú tội". Nhưng làm sao người ta có thể thú nhận những tội ác mà họ chẳng bao giờ thực hiện? Chỉ có một cách duy nhất - áp dụng nhục hình, tra tấn khiến người ta mất hết tri giác, mất hết lí trí, mất hết phẩm giá con người. Những lời "thú tội" ảo đã được khai thác như thế đó.
Khi làn sóng đàn áp hàng loạt bắt đầu dịu xuống vào năm 1939, khi lãnh đạo các tổ chức đảng địa phương tố cáo nhân viên NKVD dùng nhục hình với những người bị bắt, ngày 10-1-1939, Stalin gửi một bức điện mật cho bí thư đảng ủy các tỉnh, vùng, BCHTW các nước cộng hòa, các ủy viên nội vụ và lãnh đạo các cục an ninh thuộc NKVD. Nội dung bức điện như sau:
"BCHTW ĐCSLX giải thích việc áp dụng nhục hình khi làm nhiệm vụ của NKVD đã được BCHTW ĐCSLX cho phép từ năm 1937... Được biết tất cả các cơ quan phản gián tư sản đều áp dụng nhục hình với đại diện giai cấp vô sản xã hội chủ nghĩa, hơn thế nữa, còn áp dụng dưới những hình thức ghê tởm nhất. Thử hỏi, tại sao an ninh phản gián xã hội chủ nghĩa lại phải nhân đạo hơn với lũ tay sai hung hãn của tư sản, với kẻ thù đáng nguyền rủa của giai cấp công nhân và nông dân. BCHTW ĐCSLX cho rằng phương pháp nhục hình phải được sử dụng, trong tình huống đặc biệt, để chống lại những kẻ thù của nhân dân, công khai và có vũ trang, như là một phương pháp đúng đắn và hợp lí".
Bằng việc này, sự vi phạm trắng trợn nhất pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhục hình và tra tấn, như trình bày ở trên, đã khiến những người vô tội phải tự buộc tội mình và vu khống kẻ khác, đã được Stalin phê chuẩn, nhân danh BCHTW ĐCSLX.
Gần đây, vài ngày trước đại hội, chúng tôi đã gọi tới trước phiên họp của Đoàn chủ tịch BCHTW và thẩm tra nhân viên điều tra Rodos, kẻ đã điều tra và hỏi cung Kosior, Chubar, Kosariov. Đó là một kẻ vô giá trị, óc chim sẻ, tư cách đạo đức đồi bại. Ấy vậy mà một kẻ như thế lại định đoạt số phận của những nhà hoạt động tên tuổi của đảng, định đoạt cả đường lối chính trị, bởi vì khi chứng minh "tội ác" của họ, y đã cung cấp hồ sơ tài liệu có thể rút ra những kết luận mang tính chính trị lớn.
Thử hỏi, chẳng lẽ một kẻ như thế lại có thể, bằng trí tuệ của mình, tiến hành điều tra để chứng minh tội trạng của những người như Kosior và nhiều người khác. Không, y không thể làm gì hơn nếu không có chỉ đạo sát sao. Tại phiên họp của Đoàn chủ tịch BCHTW y đã khai với chúng tôi: "Người ta bảo với tôi Kosior và Chubar là kẻ thù của nhân dân, vì vậy, với tư cách nhân viên điều tra, tôi có bổn phận bắt họ thú nhận họ là kẻ thù". (Phẫn nộ trong phòng họp.)
Y chỉ có thể khai thác được bằng biện pháp tra tấn dai dẳng, và những gì y làm đều theo chỉ đạo cụ thể của Beria. Phải nói là tại phiên họp của Đoàn chủ tịch BCHTW Rodos đã trơ tráo tuyên bố: "Tôi nghĩ tôi thực hiện mệnh lệnh của đảng". Chỉ thị của Stalin về việc áp dụng nhục hình với những người bị bắt giữ đã được thi hành trong thực tiễn như thế đó.
Những sự kiện này cùng nhiều sự kiện tương tự chứng tỏ mọi chuẩn mực nhằm giải quyết vấn đề một cách đúng đắn của đảng đã bị xóa bỏ; tất cả đều tùy thuộc vào sự chuyên quyền của một cá nhân.
Sự chuyên quyền của Stalin đã dẫn đến những hậu quả đặc biệt nặng nề trong thời kì chiến tranh vệ quốc vĩ đại.
Khi xem rất nhiều những tiểu thuyết, phim ảnh và "công trình nghiên cứu" lịch sử của chúng ta, ta thấy trong đó trình bày hoàn toàn bóp méo sự thật vai trò của Stalin trong chiến tranh vệ quốc. Thường thì một bố cục được xây dựng thế này. Stalin đã tiên đoán tất cả. Quân đội Sô-viết theo kế hoạch chiến lược do Stalin vạch ra từ trước, sử dụng chiến thuật mang tên "‘phòng thủ tích cực", có nghĩa là chiến thuật, như đã biết, cho quân Đức tràn vào tận Moskva và Stalingrad. Áp dụng chiến thuật này, dường như chỉ nhờ vào thiên tài của Stalin, quân đội Sô-viết đã chuyển sang thế phản công và đập tan quân thù. Chiến thắng có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới do các lực lượng vũ trang đất nước Sô-viết và nhân dân anh hùng, được mô tả trong các loại tiểu thuyết, phim ảnh, "công trình nghiên cứu" như thế đấy, hoàn toàn nhờ vào thiên tài quân sự của Stalin.
Cần phải lưu tâm xem xét vấn đề này, vì nó có ý nghĩa vô cùng lớn lao, chẳng những về góc độ lịch sử, mà trên hết còn về góc độ chính trị, giáo dục và thực tiễn.
Những sự kiện nào trong vấn đề này?
Trước chiến tranh, trên mọi phương tiện báo chí và công tác giáo dục tuyên truyền trong nước rặt một giọng ngạo mạn: nếu kẻ thù dám xâm phạm lãnh thổ Sô-viết thiêng liêng, chúng ta sẽ giáng trả gấp ba lần cho một đòn của quân thù, sẽ tiến hành chiến tranh ngay trên lãnh thổ của chúng và sẽ chiến thắng với thiệt hại xương máu ít nhất. Tuy nhiên, những lời tuyên bố được khẳng định ấy còn rất xa với thực tế, đảm bảo sự bất khả xâm phạm biên cương nước ta.
Theo diễn tiến và khi kết thúc chiến tranh, Stalin đã nâng cao luận điểm, bi kịch mà nhân dân ta phải gánh chịu trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, tuồng như là hậu quả cuộc tấn công "bất thình lình" của quân Đức chống Liên Xô. Nhưng thưa các đồng chí, điều này hoàn toàn không đúng sự thực. Ngay khi Hitler vừa nắm chính quyền nước Đức, y đã đặt ra sứ mệnh thủ tiêu chủ nghĩa cộng sản. Bọn phát-xít đã thẳng thừng tuyên bố điều này, không hề giấu giếm ý đồ. Để thực hiện kế hoạch xâm lăng, các loại hiệp ước, khối liên minh, trục đã được kí kết, chẳng hạn "trục Berlin - Rome - Tokyo". Vô số sự kiện thời kì trước chiến tranh rõ ràng chứng tỏ Hitler đã tập trung mọi lực lượng để mở cuộc chiến tranh chống nhà nước Sô-viết và tập trung những binh đoàn lớn, trong đó có binh chủng thiết giáp, gần biên giới Liên Xô.
Nhiều tài liệu công bố hiện nay cho thấy từ ngày 3-4-1941 Churchill, thông qua Cripps, đại sứ Anh tại Liên Xô, đã đích thân cảnh báo Stalin về việc Đức Quốc xã bắt đầu điều động các binh đoàn chuẩn bị mở cuộc tấn công Liên Xô. Tất nhiên, Churchill làm thế chẳng phải vì thiện cảm với nhân dân Sô-viết. Ở đây ông ta theo đuổi mục tiêu quyền lợi đế quốc - đẩy Đức Quốc xã và Liên Xô vào cuộc chiến tranh đẫm máu, từ đó củng cố địa vị của đế quốc Anh. Tuy vậy, Churchill nhấn mạnh trong bức công hàm, ông "cảnh báo Stalin chú ý đến mối hiểm họa đang đe dọa". Churchill liên tục nhấn mạnh vấn đề này trong các công điện ngày 18-4 và những ngày tiếp theo. Nhưng Stalin chẳng chút lưu tâm đến những cảnh báo này. Ngoài ra, Stalin còn chỉ thị không được tin vào những thông tin loại ấy nhằm tránh khiêu khích mở đầu hoạt động quân sự.
Cần phải nói, thông tin về hiểm họa lơ lửng trên đầu của các binh đoàn Đức xâm lược lãnh thổ Liên Xô cũng đã được các nguồn tin quân sự và ngoại giao của chúng ta đưa ra, nhưng do chỉ thị về việc không được tin vào những thông tin loại này nên mỗi lần báo cáo thông tin lên cấp lãnh đạo phải hết sức dè dặt và luôn phải bàn bạc cân nhắc.
Chẳng hạn, trong báo cáo gửi từ Berlin ngày 6-5-1941, tùy viên quân sự đại tá hải quân Vorontsov trình bày: "Một công dân Liên Xô tên Bozer... đã báo cho phó tùy viên hải quân là theo lời một sĩ quan Đức tại tổng hành dinh của Hitler, quân Đức chuẩn bị xâm lược Liên Xô vào ngày 14-5 qua ngả Phần Lan, các nước Baltic và Latvia. Đồng thời, không quân Đức sẽ tấn công ồ ạt Moskva và Leningrad và biệt kích dù xâm nhập các thành phố trung tâm dọc theo biên giới..."
Trong báo cáo ngày 22-5-1941, Khlopov, phó tùy viên quân sự tại Berlin báo cáo "... cuộc tấn công của quân đội Đức được ấn định vào ngày 15-6, nhưng có khả năng sẽ bắt đầu vào những ngày đầu tháng Sáu...".
Trong bức điện của đại sứ nước ta tại London ngày 18-6-1941 báo cáo: "Liên quan đến tình hình hiện tại, Kripps khẳng định chắc chắn đụng độ quân sự giữa Đức và Liên Xô là không tránh khỏi, và sẽ diễn ra chậm nhất là giữa tháng Sáu. Theo lời Kripps, hôm nay quân Đức đang tập trung 147 sư đoàn (kể cả không quân và các lực lượng tiếp ứng) dọc biên giới Liên Xô...".
Mặc cho những tín hiệu tối quan trọng như thế, không có biện pháp thiết yếu nào được đưa ra để chuẩn bị quốc phòng và loại trừ tình huống bị tấn công bất ngờ.
Chúng ta có đủ thời gian và khả năng cho việc chuẩn bị không? Có, đủ thời gian và đủ khả năng. Nền công nghiệp của chúng ta đang phát triển ở mức hoàn toàn có thể đảm bảo cho quân đội Liên Xô những gì cần thiết. Điều này được khẳng định bằng thực tế, trong diễn tiến cuộc chiến tranh, một nửa nền công nghiệp của chúng ta bị thiệt hại do hậu quả Ukraina, Bắc Caucase, miền Tây đất nước, những vùng công nghiệp và lương thực quan trọng bị kẻ thù chiếm đóng, nhân dân Sô-viết vẫn biết tổ chức sản xuất quân nhu ở các vùng phía Đông, vẫn đưa vào hoạt động những thiết bị được chuyển từ các khu công nghiệp miền Tây về và đã đảm bảo cho lực lượng vũ trang tất cả những gì cần thiết yếu để đập tan quân thù.
Nếu như nền công nghiệp chúng ta được điều động kịp thời và đúng lúc để đảm bảo cho quân đội vũ khí và quân trang quân dụng cần thiết thì chúng ta đã chỉ phải chịu hi sinh mất mát ít hơn rất nhiều trong cuộc chiến khốc liệt này. Tuy nhiên việc điều động kịp thời đã không được tiến hành. Từ những ngày đầu chiến tranh đã phát hiện quân đội ta được vũ trang rất yếu kém, chúng ta không đủ pháo, xe tăng, máy bay để đẩy lùi quân địch.
Khoa học và kĩ thuật Sô-viết đã chế tạo được các mô hình tuyệt vời xe tăng và pháo ngay từ thời trước chiến tranh. Có điều việc sản xuất hàng loạt những vũ khí này chưa tiến hành, và chúng ta mới tái vũ trang cho quân đội ngay trước ngày chiến tranh bùng nổ. Hậu quả là vào thời điểm quân thù tấn công trên lãnh thổ Sô-viết, chúng ta không có đủ số lượng vũ khí cần thiết theo kĩ thuật cũ, đã không còn được trang bị, mà cũng không đủ vũ khí mới do chưa kịp sản xuất hàng loạt trong công nghiệp quân sự. Pháo cao xạ còn rất lạc hậu, việc sản xuất đạn trái phá bọc đồng chống tăng chưa được tổ chức. Nhiều vùng chiến lược vào thời điểm kẻ địch tấn công không đương đầu nổi vì vũ khí cũ đã bị loại bỏ, còn vũ khí mới chưa kịp trang bị.
Đáng tiếc, vấn đề không phải chỉ đối với xe tăng, pháo và máy bay. Đầu cuộc chiến ta còn không đủ cả súng trường để trang bị cho binh lính mới được động viên nhập ngũ. Tôi còn nhớ vào những ngày đó, tôi đã gọi điện từ Kiev cho đồng chí Malenkov:
- Nhiều người tình nguyện nhập ngũ và họ đòi cấp súng đạn. Gửi vũ khí cho chúng tôi.
Malenkov trả lời:
- Chúng tôi không thể gửi vũ khí. Tất cả súng đã gửi đi Leningrad rồi, các đồng chí phải tự vũ trang lấy. (Xôn xao trong phòng họp.)
Tình trạng vũ khí là như thế.
Không thể không nhớ đến sự kiện liên quan đến vấn đề này. Ít lâu trước cuộc tấn công của quân Hitler vào lãnh thổ Sô-viết, Kirponos - thời ấy là tư lệnh vành đai quân sự đặc khu Kiev (đã hi sinh tại mặt trận) - báo cáo Stalin là quân Đức đã tiến gần sông Bug và đang củng cố lực lượng để chuẩn bị tấn công trong thời gian sớm nhất. Dự liệu điều này, Kirponos đề nghị thiết lập một hệ thống phòng thủ chắc chắn, di tản khoảng 300 ngàn dân cư khỏi các vùng biên giới và xây dựng vành đai phòng ngự kiên cố: đào chiến hào chống tăng, đắp công sự cho chiến sĩ v.v...
Đáp lại đề nghị này, Moskva trả lời đó là một hành động khiêu khích, không được tiến hành bất cứ hành động gì dọc biên giới để quân Đức khỏi mượn cớ mở hành động quân sự chống lại ta. Và biên giới của ta thực sự không được chuẩn bị để ngăn chặn quân thù.
Khi các binh đoàn phát-xít đã tràn qua lãnh thổ Sô-viết và bắt đầu những hành động quân sự, mệnh lệnh từ Moskva vẫn là không được bắn trả. Tại sao? Bởi vì Stalin, bất chấp những sự kiện rành rành, vẫn cho rằng chiến tranh chưa xảy ra, mà chỉ là hành động khiêu khích của vài đơn vị vô kỉ luật của quân Đức và đòn giáng trả của chúng ta sẽ là cái cớ để bùng nổ chiến tranh.
Sự kiện này cũng được biết đến. Ngay trước ngày quân đội Hitler xâm lược lãnh thổ Liên Xô, một công dân Đức đã vượt biên giới nước ta và thông báo quân Đức được lệnh tấn công Liên Xô vào 3 giờ đêm ngày 22-6. Thông tin ngay lập tức được báo cáo Stalin, song tín hiệu này vẫn hoàn toàn bị bỏ qua.
Như các đồng chí thấy, mọi thứ đều bị phớt lờ: cảnh báo của cấp lãnh đạo quân sự, tin tức của lính Đức đào ngũ và thậm chí những hành động rành rành của kẻ địch. Đó có phải là tinh thần cảnh giác của một lãnh tụ đảng và đất nước trong một khoảnh khắc lịch sử quan trọng như thế?
Thái độ thản nhiên, phớt lờ những sự kiện rành rành ấy đã dẫn đến hậu quả ra sao? Hậu quả là ngay trong những giờ đầu và ngày đầu cuộc chiến, tại các vùng biên giới, kẻ thù đã tiêu diệt số lượng lớn không quân, pháo binh, các trang bị quân sự khác, đã sát hại số lượng đáng kể cán bộ quân sự, phá tan bộ tham mưu quân đoàn của ta, và chúng ta lâm vào tình trạng không ngăn nổi bước tiến của quân thù vào sâu lãnh thổ.
Những hậu quả thảm hại, đặc biệt trong giai đoạn đầu cuộc chiến, cũng do tình trạng vào thời kì 1937-1941 Stalin, vì bản tính đa nghi của mình, dựa trên những lời buộc tội vu khống đã thủ tiêu nhiều cán bộ lãnh đạo quân sự và chính trị. Suốt những năm đó, các cuộc đàn áp đã triệt hạ những tầng lớp cán bộ quân sự, từ cấp đại đội, tiểu đoàn đến những lãnh đạo quân sự cấp cao, trong đó nhiều người đã từng kinh qua chiến tranh ở Tây Ban Nha và Viễn Đông.
Chính sách đàn áp trên diện rộng đối với các cán bộ quân sự còn gây hậu quả nghiêm trọng là phá vỡ nền móng kỉ luật quân đội, vì trong nhiều năm liền, người ta đã gợi ý các sĩ quan các cấp, thậm chí cả binh lính trong đảng và trong đoàn thanh niên cộng sản phải "vạch mặt" chỉ huy cấp cao như những kẻ thù giấu mặt. (Xôn xao trong phòng họp.). Lẽ tự nhiên, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến kỉ luật quân đội trong giai đoạn đầu chiến tranh.
Và trước chiến tranh chúng ta có nhiều cán bộ quân sự lỗi lạc, những người trung thành vô hạn với đảng và với tổ quốc. Đủ cơ sở để nói, những người còn sống sót, tôi muốn nói đến các đồng chí như Rokossovsky (đã bị ngồi tù), Gorbatov, Maretskov (là đại biểu đại hội này), Podlas (một tư lệnh nổi tiếng đã hi sinh ngoài mặt trận) và nhiều, rất nhiều đồng chí khác, bất kể đã phải trải qua đau khổ nặng nề trong ngục tù, từ những ngày đầu chiến tranh đã tỏ ra là những người yêu nước chân chính và đã anh dũng chiến đấu vì tổ quốc vinh quang. Nhưng cũng nhiều tư lệnh đã bỏ xác trong các trại cải tạo hoặc trong nhà tù, và quân đội ta không được gặp lại họ nữa.
Tất cả những điều ấy đã dẫn đến tình trạng đất nước ta vào thời kì đầu cuộc chiến và gây ra mối hiểm họa vô cùng to lớn cho số phận của tổ quốc ta.
Thật không đúng đắn nếu không nói rằng sau những thất bại và những tổn thất nặng nề đầu tiên ngoài mặt trận, Stalin nghĩ rằng đã lâm vào bước đường cùng. Trong một cuộc nói chuyện hồi đó, Stalin tuyên bố:
- Chúng ta đã đánh mất vĩnh viễn tất cả những gì Lenin gây dựng.
Sau đó, trong một thời gian dài, thực tế Stalin không chỉ đạo các hoạt động quân sự, nói chung đồng chí ấy chẳng làm gì cả và chỉ điều hành trở lại khi một số ủy viên Bộ Chính trị đến gặp đồng chí và đề nghị thi hành cấp tốc một số biện pháp để cải thiện tình hình ngoài mặt trận.
Như thế, hiểm họa khôn lường treo lơ lửng trên đầu tổ quốc ta vào thời kì đầu chiến tranh, phần lớn là hậu quả của phương pháp sai lầm trong việc lãnh đạo đất nước và đảng của Stalin.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ vào thời điểm chiến tranh bùng nổ, đã làm rối loạn nghiêm trọng quân đội và gây ra nhiều thiệt hại nặng nề. Về sau này, sự cáu kỉnh và thần kinh không ổn định của Stalin trong việc can thiệp loạn xạ vào hoạt động quân sự cũng làm quân đội ta bị thiệt hại nặng nề.
Stalin hoàn toàn không nắm được tình hình thực tế ngoài mặt trận. Và điều này là lẽ tự nhiên, vì suốt thời kì chiến tranh vệ quốc, Stalin không hề có mặt tại một mặt trận nào, hay một thành phố nào vừa được giải phóng, nếu không kể một cuộc đi thăm chớp nhoáng trên quốc lộ Mojaisky khi tình thế mặt trận đã ổn định, được mô tả trong không biết bao nhiêu tác phẩm văn học, với những thêm thắt thêu dệt đủ loại, và trong không biết bao nhiêu bức tranh tuyệt đẹp. Cùng lúc đó, Stalin trực tiếp can thiệp vào những cuộc hành quân, ban hành các mệnh lệnh hoàn toàn không căn cứ vào tình hình thực tế mặt trận, không thể không gây tổn thất vô cùng to lớn về nhân mạng.
Tôi xin nêu một sự việc điển hình liên quan đến vấn đề này, chứng tỏ cách thức Stalin đã chỉ đạo mặt trận. Tham dự đại hội hôm nay có nguyên soái Bagramian, thời đó là chỉ huy trưởng bộ tham mưu mặt trận Tây Nam, và đồng chí có thể chứng thực lời của tôi.
Năm 1942, khi tình hình trở nên đặc biệt nghiêm trọng cho quân ta tại Kharkov, chúng tôi đã thông qua quyết định đúng đắn về việc ngừng hành quân bao vây Kharkov, vì tình hình thực tế hồi đó cho thấy việc tiếp tục hành quân có thể gây thiệt hại thảm khốc cho quân đội ta.
Chúng tôi báo cáo Stalin, tuyên bố rằng tình hình hiện tại đòi hỏi phải thay đổi kế hoạch hành động, để quân địch không có cơ hội tiêu diệt các cứ điểm quân đội của ta.
Trái với tư duy lành mạnh, Stalin bác bỏ đề xuất của chúng tôi và ra lệnh tiếp tục hành quân bao vây Kharkov, mặc dù khi đó rất nhiều cứ điểm quân ta đang bị đe dọa bao vây và tiêu diệt.
Tôi gọi điện cho Vasilievsky và khẩn khoản với đồng chí:
- Alexandre Mikhailovich (đồng chí Vasilievsky đang có mặt ở đây), đồng chí hãy lấy bản đồ và chỉ cho đồng chí Stalin biết tình hình. Phải lưu ý là Stalin lên kế hoạch quân sự trên quả địa cầu dùng cho học trò. (Xôn xao trong phòng họp.) Đúng thế, thưa các đồng chí, lấy một quả địa cầu và vạch tuyến mặt trận trên đó. Tôi nói với đồng chí Vasilievsky, hãy chỉ tình hình trên bản đồ, trong điều kiện hiện nay không được tiếp tục kế hoạch dự định. Phải thay đổi quyết định cho phù hợp tình thế.
Vasilievsky trả lời tôi Stalin đã xem xét vấn đề này và đồng chí, Vasilievsky, không muốn chứng minh với Stalin nữa, vì Stalin không muốn nghe thêm bất cứ điều gì về kế hoạch hành quân này.
Sau cuộc nói chuyện với Vasilievsky, tôi gọi điện về nhà nghỉ Stalin. Nhưng Stalin không nhấc máy mà là Malenkov. Tôi nói với đồng chí Malenkov là tôi gọi từ mặt trận và muốn nói chuyện trực tiếp với đồng chí Stalin. Qua Malenkov, Stalin bảo tôi có gì cứ nói với Malenkov. Tôi nhấn mạnh lần thứ hai là muốn báo cáo trực tiếp với Stalin về tình hình nguy cấp của chúng tôi ngoài mặt trận. Nhưng Stalin cho rằng không cần thiết nhấc ống nghe, và một lần nữa khẳng định cứ báo cáo thông qua Malenkov, mặc dù khi đó Stalin chỉ đứng cách điện thoại vài bước chân.
Sau khi đã "lắng nghe" đề nghị của chúng tôi bằng cách ấy, Stalin trả lời:
- Cứ theo kế hoạch cũ!
Và kết quả ra sao? Không thể nào tệ hại hơn, như chúng tôi dự liệu. Quân Đức đã bao vây các cứ điểm quân ta và chúng ta đã bị thiệt hại hàng trăm ngàn binh sĩ. Thế đấy, "thiên tài" quân sự của Stalin là như thế, nó đã đáng giá như thế nào! (Xôn xao trong phòng họp.)
Có lần, sau chiến tranh, trong cuộc gặp gỡ của Stalin với các ủy viên Bộ Chính trị, Anastas Ivanovich Mikoyan có nhắc chuyện Khrushyov đã có lí khi gọi điện báo cáo về kế hoạch hành quân tại Kharkov, và thật đáng tiếc khi đề xuất của đồng chí đã không được ủng hộ.
Phải hình dung xem Stalin đã nổi trận lôi dình như thế nào! Làm sao có thể nhìn nhận là Stalin không đúng đắn! Bởi Stalin là một "thiên tài", mà thiên tài thì sao mà sai được! Mọi người, bất kì ai, đều có thể sai lầm, nhưng Stalin thì cho rằng mình không bao giờ sai lầm, luôn luôn đúng. Và đồng chí không bao giờ, không với một ai, thú nhận là mình sai, lỗi lớn hay lỗi nhỏ, mặc dù đồng chí đã phạm không ít sai lầm cả trong lí thuyết lẫn trong vấn đề thực tiễn. Sau đại hội này, chắc chắn chúng ta phải xem xét lại cách đánh giá nhiều kế hoạch tác chiến và đưa ra những giải thích đúng đắn.
Chúng ta đã phải trả giá bằng nhiều xương máu cho chiến thuật mà Stalin cứ khăng khăng chỉ đạo, không am hiểu gì bản chất của chỉ huy quân sự, kể cả sau khi đã ngăn chặn được bước tiến quân địch và chuyển sang thế phản công.
Các nhà quân sự đều biết ngay từ cuối năm 1941, thay vì phải mở đầu tổng hành quân di chuyển vòng theo sườn địch để đánh thọc vào hậu tuyến, Stalin lại đòi hỏi liên tục đánh trực diện để chiếm lại từng ngôi làng. Và chúng ta chịu nhiều tổn thất nặng nề, chỉ cho đến khi các tướng lĩnh của ta, hai vai mang mọi gánh nặng của chiến tranh, đã kịp biến đổi tình thế và chuyển sang những chiến dịch mềm dẻo hơn, và cục diện lập tức xoay chuyển nhanh chóng trên các mặt trận theo hướng có lợi cho quân ta.
Một sự thật nhục nhã và hoàn toàn không xứng đáng là sau thắng lợi vĩ đại trước kẻ thù bằng một giá quá đắt, Stalin lại bắt đầu công kích nhiều nhà chỉ huy quân sự, những người đã cống hiến nhiều công sức để chiến thắng quân thù, bởi lẽ Stalin muốn loại trừ hết mọi khả năng những công trạng ngoài mặt trận lại có thể là của một ai đó khác hơn là của chính đồng chí.
Stalin rất quan tâm sự đánh giá của mọi người về đồng chí Jukov, nhà chỉ huy quân sự của ta. Nhiều lần đồng chí hỏi ý kiến tôi về Jukov, và tôi trả lời:
- Tôi biết Jukov đã lâu, đồng chí là một vị tướng giỏi và một nhà chỉ huy quân sự tài ba.
Sau chiến tranh, Stalin bắt đầu gieo rắc những chuyện không hay về Jukov, chẳng hạn, đồng chí nói với tôi:
- Đồng chí khen ngợi Jukov, nhưng đồng chí ấy có xứng đáng đâu. Người ta kể, ngoài mặt trận trước mỗi cuộc hành quân, Jukov làm thế này: bốc một nắm đất, đưa lên mũi ngửi rồi nói: có thể bắt đầu tấn công, hoặc ngược lại, không thể thực hiện kế hoạch tác chiến dự định.
Khi đó, tôi đã trả lời:
- Thưa đồng chí Stalin, tôi không biết ai đã bịa đặt chuyện đó, nhưng không đúng thế.
Có thể chính Stalin đã bịa ra những chuyện đại loại thế để hạ thấp vai trò và tài năng quân sự của nguyên soái Jukov.
Liên quan đến vấn đề này, Stalin rất sốt sắng đánh bóng bản thân như một nhà chỉ huy quân sự vĩ đại, bằng mọi cách cấy vào nhận thức mọi người ý nghĩ là tất cả chiến công trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại do nhân dân Sô-viết làm nên, đều là kết quả của lòng can đảm, sự quả cảm, thiên tài lỗi lạc của Stalin, ngoài ra không có gì hơn. Cứ như chàng Kuzma Kryuchkov trong cổ tích - một nhát bảy mạng. (Xôn xao trong phòng họp.)
Trong thực tế, cứ thử xem các phim ảnh về đề tài lịch sử và quân sự của ta hoặc một số tác phẩm văn học, đọc qua là thấy buồn nôn. Thực chất chúng được hướng vào mục đích tuyên truyền cho chính cái kịch bản để vinh danh Stalin như một vị chỉ huy thiên tài. Thử nhớ lại cuốn phim "Berlin thất thủ". Trong đó, Stalin độc diễn: đồng chí ra chỉ thì trong một sảnh đường với toàn ghế trống, và chỉ có một người tiến lại gần và báo cáo điều gì đó - đó là Poskrebyshev, kẻ hầu cận trung thành. (Cười lớn trong phòng họp.)
Còn bộ tổng tham mưu lúc đó ở đâu? Bộ Chính trị ở đâu? Chính phủ ở đâu? Họ làm gì và đang bận việc gì? Không có trong phim. Stalin độc diễn thay cho tất cả, chẳng đếm xỉa, chẳng bàn bạc với ai. Người ta đã công chiếu trước nhân dân cái loại hình bị bóp méo xuyên tạc này. Để làm gì? Để bọc Stalin trong một vầng hào quang, bất kể mọi sự kiện, bất kể sự thật lịch sử.
Thử hỏi, còn những người lính của chúng ta lúc đó ở đâu, những người oằn cả hai vai dưới gánh nặng của cuộc chiến tranh? Trong phim không có, sau Stalin chẳng còn một chỗ nào cho họ.
Không phải Stalin, mà là toàn đảng, chính phủ Sô-viết, quân đội anh hùng, những nhà chỉ huy quân sự tài ba, những người lính quả cảm, toàn thể nhân dân Sô-viết - những người đã làm nên chiến thắng của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. (Vỗ tay vang dội kéo dài.)
Các ủy viên BCHTW, các bộ trưởng, các nhà quản lí kinh tế, các nhà hoạt động văn hóa Sô-viết, lãnh đạo các tổ chức đảng và Sô-viết địa phương, các kĩ sư, kĩ thuật viên - mỗi người tại vị trí của mình, đã cống hiến hết sức lực và kiến thức một cách quên mình để chiến thắng kẻ thù.
Hậu phương của chúng ta đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng tuyệt đối: giai cấp công nhân vinh quang, nông dân, trí thức Sô-viết, dưới sự lãnh đạo của các tổ chức đảng, vượt qua muôn vàn khó khăn mất mát thời chiến, đã cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc.
Phụ nữ Sô-viết của chúng ta đã làm nên chiến công hiển hách khi nhận trên đôi vai gánh nặng của nhiệm vụ sản xuất trong các công xưởng, các nông trang, trong mọi bộ phận của ngành kinh tế và văn hóa, nhiều phụ nữ đã trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận, lớp thanh niên anh dũng của chúng ta, ngoài tiền tuyến cũng như ở hậu phương đã có những đóng góp vô giá trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc Sô-viết, trong công cuộc đập tan quân thù.
Những chiến công bất tử của người lính Sô-viết, những nhà chỉ huy quân sự và nhà chính trị các cấp, những người trong ngày đầu chiến tranh, sau thiệt hại đáng kể của quân đội ta, không ngã lòng, biết củng cố lại lực lượng, xây dựng và tôi luyện trong chiến đấu quân đội hùng mạnh và anh dũng, chẳng những chặn đứng được kẻ thù mạnh mẽ và xảo quyệt mà còn đập tan bọn chúng.
Chiến công vĩ đại của nhân dân Sô-viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đã cứu hàng trăm triệu con người, phương Đông lẫn phương Tây, khỏi hiểm họa nô dịch phát-xít lơ lửng trên đầu, sẽ còn sống mãi trong kí ức của nhân loại biết ơn, hàng thế kỉ, hàng thiên niên kỉ sau này. (Vỗ tay kéo dài.)
Vai trò chủ iếu và chiến công trong việc kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh này thuộc về đảng ta, các lực lượng vũ trang Liên Xô, hàng triệu triệu nhân dân Sô-viết do đảng đào tạo. (Vỗ tay vang dội kéo dài.)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét