Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Đạo: Con đường không lối (01d)



ĐẠO: CON ĐƯỜNG KHÔNG LỐI
Phạm Ngọc dịch từ “Tao: The Pathless Path”, Renaissance Books, St. Martin's Press, New York © 2002
Câu chuyện ngụ ngôn:
Khi đang dùng bữa bên vệ đường trên hành trình đến nước Vệ, Liệt Tử thấy một chiếc sọ người độ trăm tuổi. Bẻ một nhánh cây chỉ vào chiếc sọ, quay sang môn đệ là Bách Phong ông bảo: “Chỉ ông ấy và ta biết rằng anh bất sinh bất diệt. Phải chăng ông ấy thực sự đau khổ, phải chăng chúng ta thực sự hạnh phúc?”
Một câu nói rất bí ẩn – một mật mã phải giải mã. “Chỉ ông ấy và ta biết” – Liệt Tử nói, chỉ vào chiếc sọ người độ trăm tuổi – “rằng anh bất sinh bất diệt”. Vì sao ông bảo “Chỉ ông ấy và ta biết”? Chiếc sọ đã chết một cái chết không tự nguyện, còn Liệt Tử đã chết một cái chết tự nguyện – cả hai đều chết theo một cách nào đó. Liệt Tử đã chết qua thiền. Liệt Tử đã chết vì ông không còn bản ngã nữa, vì ông không còn tách rời khỏi cái toàn thể, vì ông không còn nữa. Đấy là cái chết thực, thật ra còn sâu hơn cái chết của chiếc sọ. Không thật chắc chắn là liệu người chết, người có chiếc sọ nằm đó một trăm năm, có biết không. Điều đó không chắc – người đó có thể không biết, người đó có thể biết. Nhưng điều chắc chắn là Liệt Tử biết: cái chết của ông là có í thức.
Nhưng ông sử dụng tình huống. Chuyện ngụ ngôn sử dụng tình huống. Đệ tử Bách Phong của ông ngồi bên cạnh, chiếc sọ nằm đó, và ông chỉ vào chiếc sọ: “Chỉ ông ấy và ta biết rằng anh bất sinh bất diệt.
Ai chết? Và ai được sinh? Bản ngã được sinh và bản ngã chết. Sâu bên dưới, nơi bản ngã không còn nữa, bạn bất sinh bất diệt. Bạn vĩnh hằng, bạn là vĩnh hằng, bạn là thể nền, là chính chất liệu mà hiện hữu được tạo nên – làm thế nào bạn có thể chết được? Nhưng bản ngã được sinh ra và bản ngã chết đi.
Bạn bất sinh bất diệt, nhưng làm cách nào để biết điều đó? Bạn có muốn đợi cho tới khi cái chết đến không? Điều đó rất rủi ro, bởi vì nếu bạn sống toàn bộ cuộc sống của bạn một cách vô í thức, chẳng có mấy khả năng bạn có thể trở nên có í thức khi bạn chết đâu. Điều đó bất khả nếu toàn bộ cuộc sống của bạn là chuỗi tiếp nối của việc sống vô í thức – bạn sẽ chết một cách vô í thức, bạn sẽ không có khả năng biết được. Bạn sẽ chết trong cơn mê, bạn sẽ không có khả năng quan sát và thấy điều xảy ra. Bạn thậm chí không có khả năng thấy được cuộc sống, thế thì làm sao bạn có thể thấy cái chết? Cái chết tinh tế hơn nhiều.
Nếu bạn thực sự muốn biết, thế thì bắt đầu trở nên tỉnh thức đi, nhận thức đi. Sống một cách í thức, học í thức, tích lũy í thức. Trở thành ngọn lửa lớn của í thức; thế thì khi cái chết đến, bạn sẽ có khả năng chứng kiến nó, bạn sẽ có khả năng thấy nó và bạn sẽ biết: “Thể xác đang chết, bản ngã đang chết, nhưng ta không chết vì ta là nhân chứng”. Nhân chứng là cốt lõi nhất của hiện hữu. Nhân chứng là thứ mà những tôn giáo khác gọi là “Thượng đế” và là thứ mà Liệt Tử và Trang Tử gọi là “Đạo” – người biết, iếu tố biết, tâm thức, giác ngộ, tỉnh thức.
Hãy bắt đầu sống cuộc sống có í thức. Làm bất cứ điều gì bạn đang làm, nhưng hãy làm cứ như thể bạn là nhân chứng của nó – quan sát nó, im lặng theo dõi nó. Đừng bị lạc vào trong sự vật; vẫn tỉnh táo, vẫn ở ngoài. Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ: bước trên đường, ăn, tắm, nắm tay người bạn, nói chuyện, lắng nghe – những việc nhỏ, nhưng hãy tỉnh táo. Bạn sẽ quên và lại quên. Nhặt nó lên lần nữa, tìm ra nó lần nữa, nhớ nó lần nữa. Đấy là điều Phật gọi là Chánh niệm, còn Gurdjieff gọi là Tỉnh thức. Cứ nhớ rằng bạn là nhân chứng. Lúc đầu điều đó gian nan, khó nhọc, bởi giấc ngủ của chúng ta dài. Chúng ta đã ngủ trong nhiều kiếp; chúng ta đã trở nên quen với ngủ, chúng ta ngáy, một cách siêu hình. Điều đó khó khăn, nhưng nếu bạn cố gắng, dần dần từng tia sáng tỉnh thức sẽ rọi vào bản thể của bạn. Điều đó khả dĩ – có khó khăn nhưng khả dĩ, không phải là bất khả. Và đấy là thứ giá trị nhất trong cuộc sống.
“Chỉ ông ấy và ta biết rằng anh bất sinh bất diệt”. Tôi biết bạn sẽ không bao giờ chết, vì bạn chưa từng được sinh ra, nhưng bạn không biết điều đó. Sự biết của tôi sẽ không ích gì cho bạn – bạn phải biết nó. Nó phải trở thành sự thấu hiểu riêng của bạn, ánh sáng soi rọi lên bản thân bạn.
Phải chăng ông ấy thực sự đau khổ, phải chăng chúng ta thực sự hạnh phúc?Thế rồi ông đặt câu hỏi cho môn đệ của mình: Ai hạnh phúc? Những người đang sống hay những người đã chết? Ai thực sự đau khổ – những người đã chết hay những người đang sống? Và ai thực sự hạnh phúc? Rồi ông bỏ lửng câu hỏi. Nó là công án: môn đệ phải thiền tưởng về nó.
Chuyện ngụ ngôn không nói gì cả, nó đột ngột chấm dứt. Giờ đây môn đệ phải kết thúc nó. Giờ đây anh ta phải thiền, anh ta phải giác ngộ về cái chết, về cuộc sống, về tình thương, về điều này điều nọ. Rồi anh ta phải suy gẫm về câu hỏi: Ai thực sự hạnh phúc? Có phải bạn hạnh phúc chỉ là do còn đang sống hay không? Bạn không hạnh phúc, cả thế gian là bể khổ. Thế nên có thể suy ra một điều, và có thể suy ra một cách vô điều kiện, rằng chỉ là do còn đang sống không nhất thiết người ta đã hạnh phúc đâu. Đang còn sống thì không đủ để hạnh phúc – cần thêm điều gì đó mới là hạnh phúc, “cộng với” điều gì đó. Cuộc sống cộng với giác ngộ... thế thì hạnh phúc nảy sinh, bởi vì trong giác ngộ, trong ánh sáng của giác ngộ, bóng đen của bản ngã biến mất.
Giờ đây khi cuộc sống có thêm dấu cộng với giác ngộ, những điều lớn lao xảy ra. Thứ nhất, bản ngã biến mất, rồi cùng với bản ngã cái chết cũng biến mất, vì chỉ bản ngã mới có thể chết – vì bản ngã được sinh ra. Với bản ngã biến mất, sinh cũng biến mất, diệt cũng biến mất. Với bản ngã biến mất, sự tách rời của bạn khỏi hiện hữu cũng biến mất.
Đấy là í nghĩa của đóng đinh lên thập giá: bản ngã bị đóng đinh. Khi Jesus bị đóng đinh, Chúa Kitô được sinh ra – đó là í nghĩa của phục sinh. Một mặt là đóng đinh, mặt khác là phục sinh.
Hãy chết nếu bạn thực sự muốn sống – vô cùng nghịch lí, nhưng vô cùng đúng, tuyệt đối đúng. Khi bạn tồn tại, bạn không chết mà cũng không sống. Bạn lơ lửng ở giữa; vì thế mới đau khổ, căng thẳng, phiền não. Bạn bị chia tách: bạn không sống cũng không chết. Hoặc sống trọn vẹn, rồi bạn sẽ biết cuộc sống là gì; hoặc chết trọn vẹn, rồi bạn cũng sẽ biết cuộc sống là gì – bởi vì cánh cửa của Đạo mở toang với tính trọn vẹn.
Hãy trọn vẹn. Một người đang ngủ không thể trọn vẹn trong bất cứ cái gì. Bạn đang ăn, bạn không trọn vẹn ở đó; bạn đang nghĩ cả ngàn lẻ một điều, bạn đang mơ ngàn lẻ một giấc mơ, bạn chỉ đang ngốn như một cái máy. Bạn có thể làm tình với người đàn bà hay với người đàn ông của bạn – bạn không trọn vẹn ở đó. Bạn có thể nghĩ về người đàn bà khác, làm tình với vợ của bạn và nghĩ về người đàn bà khác. Hoặc bạn có thể nghĩ tới thị trường, hay tới giá cả của những thứ bạn muốn mua, hay về chiếc xe hơi, hay về căn nhà, hay cả ngàn lẻ một thứ – và bạn đang làm tình như một cái máy.
Hãy trọn vẹn trong hành động của bạn, và nếu bạn trọn vẹn bạn phải nhận thức; không ai có thể trọn vẹn mà không nhận thức. Trọn vẹn nghĩa là không có suy nghĩ khác. Nếu bạn đang ăn, đơn giản là bạn đang ăn; bạn trọn vẹn ở-đây-và-bây-giờ. Việc ăn là tất cả: bạn không chỉ ngốn mọi thứ, bạn tận hưởng nó. Tất cả thân, tâm, trí đều hòa nhịp trong khi bạn ăn: có hài hòa, nhịp điệu sâu lắng giữa ba tầng bản thể của bạn. Thế thì ăn trở thành thiền, đi trở thành thiền, chẻ củi trở thành thiền, gánh nước từ giếng về trở thành thiền, nấu ăn trở thành thiền. Những điều nhỏ bé được chuyển hóa, chúng trở thành những hành động chói sáng. Và từng hành động trở nên trọn vẹn đến mức từng hành động đều mang phẩm chất của Đạo.
Thế thì bạn vô vi khi bạn trọn vẹn. Thế thì Thượng đế mới là người làm, hay cái toàn thể là người làm – bạn chỉ là phương tiện, là lối chuyển. Và việc trở thành lối chuyển ấy là phúc lành, là ân sủng.

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Đạo: Con đường không lối (01c)



ĐẠO: CON ĐƯỜNG KHÔNG LỐI
Phạm Ngọc dịch từ “Tao: The Pathless Path”, Renaissance Books, St. Martin's Press, New York © 2002
Đạo ấy, sự hợp nhất vào cái toàn thể ấy, sự tan biến vào vũ trụ ấy không thể dạy được. Bạn có thể học nó, nhưng nó không thể dạy được. Thế nên Liệt Tử và những Đạo sư khác không thuyết giáo điều gì cả; họ không có gì để thuyết giáo. Họ kể chuyện ngụ ngôn. Bạn có thể lắng nghe câu chuyện, và nếu bạn thực sự lắng nghe, điều gì đó sẽ bùng mở trong bạn. Thế nên toàn bộ sự việc tùy thuộc vào cách bạn lắng nghe.
Bản thân Liệt Tử đã ở bên thầy ông nhiều năm ròng, chỉ ngồi im lặng, không làm gì, chỉ học im lặng, học thụ động, học tiếp nhận, học âm nhu – đó là cách người ta trở thành môn đệ. Để tôi kể bạn nghe: không có sư phụ, chỉ có môn đệ – bởi điều đó không thể dạy được. Thế nên làm sao nói có thầy được? Phật không thể dạy bạn, Liệt Tử không thể dạy bạn, thế nên sao gọi họ là thầy? Nhưng lại có môn đệ, người đó học.
Thế nên thầy không phải là người dạy bạn, thầy là người mà với sự hiện diện của người đó bạn có thể học. Để biết được sự khác biệt: thầy không phải là người dạy bạn – bởi không có gì để dạy cả. Thầy là người mà với sự hiện diện của người đó có thể học được.
Một người tìm tới Jalaluddin Rumi, nhà huyền môn Sufi, và nói: “Thầy sẽ dạy con chứ? Thầy sẽ dạy con chứ, thưa thầy?”
Jalaluddin nhìn người ấy và nói: “Anh sẽ cho phép ta dạy chăng?”
Người ấy nói: “Sao con lại không cho phép thầy dạy chứ? Con đến để học mà.”
Jalaluddin đáp: “Vì đó là điều chính iếu – anh có cho phép ta dạy không? Bằng không ta không thể dạy được, bởi thực ra dạy là không thể được, chỉ học là có thể thôi. Nếu anh cho phép, thế thì việc học sẽ đơm bông.”
Liệt Tử ở bên thầy ông nhiều năm ròng, chỉ ngồi im lặng, không làm gì, chỉ ngày một trở nên thụ động hơn. Tới một ngày khi ông tuyệt đối im lặng – không một gợn í nghĩ trong bản thể mình, không một gợn sóng. Năng lượng của ông toàn bộ ở đó, một bể chứa, mặt hồ phẳng lặng không sóng, không gió – và ông ngộ ra.
Trong một khoảnh khắc điều đó xảy ra. Chân lí không phải là quá trình, nó là điều xảy ra. Nó không dần dần, nó không cần thời gian để xảy ra. Nếu thời gian là cần thiết, thời gian chỉ cần thiết cho riêng bạn bởi vì bạn chưa thể im lặng ngay bây giờ. Nếu bạn có thể im lặng, nó có thể xảy ra ngay bây giờ. Nó luôn xảy ra trong im lặng.
Cái gì xảy ra trong im lặng? Khi bạn im lặng, bạn không có, ranh giới tan biến, bạn là một với cái toàn thể.
Để tôi kể cho bạn câu chuyện Đạo.
Một môn đệ của Lão Tử nói: “Thưa thầy, con đã đạt tới rồi.”
Lão Tử bảo: “Nếu anh nói anh đã đạt tới, thế thì chắc chắn là anh chưa tới đâu.”
Đệ tử chờ đợi trong vài tháng, thế rồi một hôm anh ta nói: “Thầy đã đúng, thưa thầy. Bây giờ, nó đã đạt tới.”
Đầu tiên anh ta bảo: “Tôi đã đạt tới” và người thầy phủ nhận. Thế rồi sau vài tháng, một hôm đột nhiên anh ta bùng mở, và anh ta nói: “ đã đạt tới.”
Lão Tử với cái nhìn đầy từ bi và thương iêu vỗ nhẹ lên đầu anh ta. Ông bảo: “Giờ đây điều đó đúng. Bây giờ, nói cho ta hay điều gì đã xảy ra. Giờ ta muốn lắng nghe. Điều gì đã xảy ra?”
Anh ta thưa: “Cho tới ngày hôm đó khi thầy nói ‘Nếu anh nói anh đã đạt tới, thế thì chắc chắn là anh chưa tới đâu’. Con đã nỗ lực. Con làm tất cả những gì con có thể làm, con đã cố gắng khó nhọc. Cái ngày thầy nói: ‘Nếu anh nói anh đã đạt tới, thế thì anh chưa tới đâu’ nó đã điểm vào đúng chỗ. Làm sao ‘tôi’ có thể đạt tới được? bởi vì ‘tôi’ là rào cản, thế nên tôi phải nhường đường.”
có thể đạt tới – và Đạo gia thậm chí gọi nó là “nó”. Họ không gọi nó là “anh ấy”, họ không gọi nó là “chị ấy”, họ không gọi nó là “Đức Chúa Cha”. Họ không gọi nó bằng bất cứ danh xưng nào, đơn giản họ nói “nó”. “” là vô nhân xưng, là tên của cái toàn thể: “Đạo” nghĩa là “nó”.
“Đạo đã đạt tới” – anh ta nói – “và nó tới chỉ khi tôi không có đó”.
Lão Tử bảo: “Kể cho những đệ tử khác về tình huống mà nó đã xảy ra”. Và anh ta nói: “Điều duy nhất mà con có thể nói là tôi không tốt, tôi không xấu, tôi không phải tội nhân, tôi không phải thánh nhân, tôi không là cái này, tôi không là cái nọ, tôi không là bất cứ ai nói riêng, khi nó đạt tới. Tôi chỉ là thụ động, vô cùng thụ động, chỉ là cánh cửa, là lối mở. Tôi thậm chí đã không mời nó. Nghe này! Tôi thậm chí đã không mời nó, bởi vì ngay cả lời mời cũng đã bỏ đi cùng chữ kí của tôi. Tôi thậm chí đã không mời... Thực ra, tôi đã hoàn toàn quên về nó. Tôi chỉ ngồi. Tôi thậm chí không tìm, không kiếm, không dò hỏi. Tôi đã không có đó, và đột nhiên nó tràn ngập trong tôi”.
Nó xảy ra theo cách đó. Nó có thể xảy đến với bạn nếu bạn ngày càng trở nên thụ động hơn. Đạo là phương cách của âm nhu. Tất cả những tôn giáo khác đều năng nổ, tất cả những tôn giáo khác đều hướng về tính dương hơn; Đạo nhiều tính âm hơn. Hãy nhớ là chân lí tới chỉ khi bạn ở trong trạng thái âm của tâm thức, không bao giờ khác được. Bạn không thể chinh phục chân lí. Thật xuẩn ngốc, thật ngớ ngẩn kể cả chỉ nghĩ rằng bạn có thể chinh phục chân lí. Bộ phận chinh phục cái toàn thể! Bộ phận chỉ có thể cho phép, bộ phận chỉ có thể trong sự buông trôi.
Buông trôi sẽ xảy ra nếu bạn có thể làm một thứ: ngừng bám vào tri thức, ngừng bám vào triết lí, ngừng bám vào học thuyết, giáo điều. Ngừng bám vào nhà thờ và tôn giáo có tổ chức, bằng không bạn sẽ có những quan niệm giả tạo, và những quan niệm giả tạo ấy sẽ không cho chân lí đi vào bạn.
Một chuyện ngụ ngôn hay:
Suốt dọc đầu hồi sân trại lũ én đậu thành một hàng, lo lắng líu ríu với nhau, kể lể nhiều điều, nhưng chỉ nghĩ về mùa hè và phương nam, vì mùa thu đang sang và gió bấc đang chờ để nổi lên.
Đột nhiên, một hôm tất cả bọn chúng bỏ đi hết. Rồi mọi con vật đều nói về chim én và phương nam.
“Tôi nghĩ sang năm đích thân tôi sẽ đi phương nam” – chị gà mái nói.
Rồi năm cũng qua và én lại về; năm hết và chúng lại đậu trên đầu hồi, rồi mọi gia cầm lại bàn về việc chuyến ra đi của chị gà mái.
Vào một sáng rất sớm, gió bắt đầu thổi từ phương bắc, đột nhiên tất cả lũ én đều bay vút lên và cảm thấy gió nâng cánh chúng; rồi sức mạnh đến với chúng, rồi tri thức cổ xưa kì lạ còn hơn niềm tin của con người; chúng bay cao, bỏ lại khói bụi của thành phố chúng ta.
“Tôi nghĩ chắc là nhờ gió” – chị gà mái nói, rồi chị giang cánh và chạy ra khỏi sân gia cầm. Rồi chị vừa chạy vừa vỗ cánh trên đường và bằng cách nào đó lao xuống đường cho tới khi chị đến một khu vườn.
Đến tối chị quay về thở hổn hển. Và trong sân gia cầm chị kể cho đám gia cầm nghe chuyện chị đã đi phương nam xa mãi tận đường cái ra sao và thấy cảnh giao thông của thế giới to lớn diễn ra. Rồi chị tới những miền đất nơi khoai tây mọc lên và thấy những gốc rạ nơi con người sống. Ở cuối con đường chị phát hiện một khu vườn trong đó trồng hoa hồng, những bông hồng tuyệt đẹp và người làm vườn cũng ở đó.
“Vô cùng thú vị làm sao” – lũ gia cầm nói – “và mô tả mới thật mĩ miều làm sao!”
Rồi mùa đông cũng qua đi, những tháng ngày cay đắng cũng qua đi, rồi mùa xuân lại về, bầy én lại đến.
Nhưng lũ gia cầm không đồng í là ở phương nam có biển, “Các bạn nên nghe chị gà mái của chúng tôi!” – chúng bảo.
Giờ đây chị gà mái đã trở thành thông thái. Chị biết có gì ở phương nam, mà thậm chí chị còn chưa ra khỏi thị trấn – chỉ xuôi xuống con đường một chút thôi. Trí tuệ là một con gà mái. Nó không thể đi xa. Nhưng một khi con gà mái biết điều gì đó, nó ngăn cản bạn; nó trở thành chướng ngại.
Vứt trí tuệ của bạn đi và bạn sẽ chẳng mất gì hết. Mang trí tuệ của bạn theo cùng và bạn sẽ mất tất cả. Vứt trí tuệ của bạn đi và bạn sẽ chỉ mất sự giam hãm của bạn, sự giả tạo của bạn. Vứt trí tuệ của bạn đi và đột nhiên tâm thức của bạn sẽ bay vút lên cao trên đôi cánh của nó... và bạn có thể đi đến tận phương nam, đến biển khơi nơi bạn thuộc về. Trí tuệ là gánh nặng chất lên con người.
Điều cuối cùng trước khi chúng ta bước vào chuyện ngụ ngôn này: Đạo bắt đầu với cái chết. Tại sao? Có điều gì đó đáng kể ở sự bắt đầu. Đạo nói rằng nếu bạn ngộ được cái chết bạn sẽ ngộ ra mọi thứ, bởi vì trong cái chết những ranh giới của bạn sẽ mờ đi. Trong cái chết, bạn sẽ biến mất. Trong cái chết, bản ngã sẽ bị vứt bỏ. Trong cái chết, tâm trí sẽ không còn đó nữa. Trong cái chết, mọi thứ không thiết iếu sẽ bị vứt bỏ và chỉ thứ cốt iếu còn lại.
Nếu bạn có thể ngộ được cái chết bạn sẽ có khả năng ngộ ra Đạo là gì, con đường không lối là gì – bởi tôn giáo cũng là cách chết, iêu cũng là cách chết, cầu nguyện cũng là cách chết. Thiền là cái chết tự nguyện. Cái chết là hiện tượng phi thường vĩ đại nhất. Nó là cực điểm của cuộc sống, là cao trào, là đỉnh cao nhất. Bạn chỉ biết một đỉnh, và đỉnh đó là tình dục, đó là đỉnh thấp nhất của dãy Himalayas. Phải, nó là đỉnh, nhưng là đỉnh thấp nhất; cái chết mới là đỉnh cao nhất.
Tình dục là sự sinh: nó là bắt đầu của dãy Himalayas, đỉnh thấp nhất. Chỉ ở lúc bắt đầu thì đỉnh cao nhất không thể có được. Từ từ, chầm chập, những đỉnh ngày một vươn cao hơn, cuối cùng là vươn tới thượng đỉnh. Cái chết là thượng đỉnh, tình dục là bắt đầu. Giữa tình dục và cái chết là toàn bộ câu chuyện cuộc sống.
Tâm lí học phương Tây bắt đầu bằng việc tìm hiểu tính dục. Tâm lí học phương Đông, tâm lí học của chư Phật, bắt đầu bằng việc tìm hiểu tâm lí của cái chết. Tìm hiểu tính dục là rất sơ đẳng; tìm hiểu cái chết là tối thượng.
Và bằng việc ngộ được cái chết bạn có thể chết một cách có í thức. Nếu bạn chết một cách có í thức bạn sẽ không tái sinh – sẽ không còn cần thiết. Bạn đã học bài xong, bạn sẽ không bị ném ngược lại mãi vào bánh xe sinh tử. Bạn đã biết, bạn đã học xong – không cần đưa bạn trở lại trường nữa; bạn đã vượt qua. Nếu bạn không học được í nghĩa của cái chết bạn sẽ bị ném trở lại. Cuộc sống là tình huống để học cái chết là gì.