Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

Trực giác: hiểu biết ngoài tầm logic (003)

QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
Bạn có quá khứ, bạn có hiện tại và bạn có tương lai. Bản năng là những gì thuộc về quá khứ phần “con” của bạn. Nó rất cũ kĩ, cô đặc; nó là di sản của hàng triệu năm. Và khi tôi nói nó tương tự loài vật, tôi không lên án nó. Với từ “loài vật”, những tu sĩ của mọi tôn giáo đều gắn nó với sự lên án - song đơn giản là tôi phát biểu một sự việc, không lên án chút nào. Quá khứ của chúng ta là quá khứ của loài vật. Chúng ta đã trải qua tất cả các loài; sự tiến hóa của chúng ta từ loài cá đến loài người trải qua mọi loài vật. Nó là một hành trình rất dài để đi tới loài người.
Trí tuệ là con người. Nó là hiện tại của chúng ta. Đó là cách mà chúng ta hoạt động - thông qua trí tuệ. Tất cả các ngành khoa học của chúng ta, tất cả công việc của chúng ta, mọi ngành nghề, bất luận là gì trên đời - chính trị, tôn giáo, triết học - thảy đều dựa vào trí tuệ. Trí tuệ là con người.
Bản năng thì hầu như không thể sai lầm, bởi lẽ nó quá già giặn, quá chín muồi, quá trưởng thành. Mắt bạn đang chớp, bạn làm gì được chứ? Chúng cứ tự làm việc của chúng - đấy là bản năng. Tim bạn đập, sự hít thở của bạn hết vào lại ra; nó không phụ thuộc vào trí tuệ của bạn để trông nom mọi thứ cốt yếu ấy của cuộc sống. Chúng nằm trong tay bản năng bởi lẽ bản năng tuyệt đối không thể sai lầm. Nó không bao giờ quên thở, nó không bao giờ quên bất cứ điều gì.
Trí tuệ có thể sai lầm bởi lẽ nó mới, vửa mới tới. Nó còn đang mò mẫm trong bóng tối, còn cố tìm xem nó là gì, nó thuộc về nơi đâu. Và bởi lẽ nó không bám rễ vào trải nghiệm, nên nó thay thế trải nghiệm bằng những niềm tin, những triết lí, những ý thức hệ. Chúng trở thành tiêu điểm của trí tuệ. Song tất cả đều có thể sai lầm bởi chúng là nhân tạo, được vài kẻ thông minh chế tạo ra. Và chúng không áp dụng được cho mọi tình huống. Chúng có thể đúng trong tình huống này, còn trong tình huống khác có thể không đúng. Song trí tuệ thì mù quáng, nó không biết cách xử lí cái mới. Nó luôn mang theo câu trả lời cũ cho câu hỏi mới.
Paddy và Sean ngồi đối diện một nhà thổ trong vùng ở Dublin, thảo luận về những đức hạnh của đức tin Công giáo. Bất thình lình, Gideon Greenberg, một giáo sĩ Do Thái địa phương tiến đến gần cửa nhà thổ, ngó phải ngó trái rồi vội vã lên cầu thang.
“Anh thấy đó?” - Paddy gầm lên - “Tôi lấy làm mừng vì mình là người Công giáo.”
Mười phút sau, một tu sĩ Anh giáo đến gần cửa, nhìn quanh quất rất nhanh rồi lao lên cầu thang.
“Lại một tay đạo đức giả khác,” - Paddy cười ha hả nói. “Ơn Chúa, tôi là người Công giáo.”
Vài phút sau Sean huých Paddy và bảo: “Này anh bạn, trông kìa! Cha O’Murphy cũng đi vào lối đó.”
Hai người choáng váng quan sát trong im lặng khi vị tu sĩ Công giáo biến mất trên cầu thang vào nhà thổ. Bất thình lình Paddy nhảy dựng lên, làm dấu thánh và hét lớn với Sean: “Sự kính trọng của anh để đâu rồi? Đứng lên và bỏ mũ xuống! Ắt là có ai qua đời trong ngôi nhà đó!”
Trí tuệ sống qua những định kiến; nó chẳng bao giờ công bằng. Do bản chất tự nhiên, nó không thể công bằng, bởi lẽ nó không có trải nghiệm. Bản năng thì luôn công bằng và thể hiện cho bạn thấy chính xác phương cách tự nhiên, phương cách thoải mái, phương cách mà vũ trụ tuân theo. Song thật lạ lùng, bản năng đã bị mọi tôn giáo lên án, còn trí tuệ lại được ca tụng.
Tất nhiên, nếu mọi người tuân theo bản năng, thế thì không cần tôn giáo nào hết, không cần thượng đế nào hết, không cần tu sĩ nào hết. Con vật không cần thượng đế và chúng hoàn toàn hạnh phúc - tôi không thấy chúng thiếu vắng thượng đế. Không một con thú nào, không một con chim nào, không một loài cây nào thiếu vắng thượng đế. Tất cả chúng đều tận hưởng cuộc sống trong cái toàn mĩ và giản dị của cuộc sống, chẳng chút sợ hãi về địa ngục, chẳng chút tham vọng về thiên đàng, chẳng chút khác biệt về triết lí. Không có con sư tử nào theo Công giáo, không có con sư tử nào theo Tin Lành hay Ấn giáo.
Toàn thể hiện hữu ắt phải bật cười trước loài người, trước những gì xảy ra với con người. Nếu chim muông có thể sống không cần tôn giáo, nhà thờ, đền thờ, chùa chiền, vì sao con người lại không thể? Chim chóc chẳng bao giờ đánh nhau vì những cuộc chiến tôn giáo; muông thú và cây cỏ cũng không. Nhưng bạn là tín đồ Hồi giáo còn tôi là tín đồ Ấn giáo và chúng ta không thể cùng tồn tại - hoặc bạn phải cải đạo theo tín ngưỡng của tôi, hoặc chuẩn bị sẵn sàng đi; tôi sẽ cho bạn lên thiên đàng ngay lập tức!
Nếu bản năng được ca tụng, thì những tôn giáo ấy mất đi nhân tố căn bản, không còn bất kì lí do nào để tồn tại, thế nên họ ca ngợi trí tuệ.
Còn điều thứ ba nữa, là tương lai của bạn, là trực giác. Thế nên ba từ ấy phải được hiểu rõ.
Bản năng là vật chất - là quá khứ, dựa trên trải nghiệm của hàng triệu năm, không thể sai lầm, không bao giờ gây lỗi và thực hiện những phép màu bên trong bạn, những thứ mà thậm chí bạn còn chưa nhận thức được. Làm thế nào mà thức ăn chuyển hóa thành máu? Làm thế nào mà sự hô hấp vẫn hoạt động thậm chí khi bạn ngủ say? Làm thế nào cơ thể tách được oxy từ nitơ? Làm thế nào thế giới bản năng của tự nhiên vẫn cứ ban cho mọi bộ phận của cơ thể những gì nó cần? Cần bao nhiêu oxy trong bộ não để tâm trí hoạt động? Số lượng chính xác dưỡng khí theo máu chạy khắp cơ thể, cung cấp oxy mới, loại bỏ những tế bào chết, cũ, đã sử dụng, thay thế chúng bằng những tế bào mới và đưa chúng về chỗ mà từ đó chúng có thể được bài tiết.
Các nhà khoa học nói rằng chúng ta không đủ khả năng thực hiện những gì bản năng làm cho con người. Trong một cơ thể nhỏ bé, bản năng thực hiện quá nhiều phép màu. Nếu một ngày nào đó, khoa học muốn thực hiện công việc của cơ thể người ta, nó cần một nhà máy ít nhất có diện tích một dặm vuông cho một người. Cơ man là máy móc! Và nó sẽ không thể không sai lầm; máy móc có thể hỏng, có thể ngừng, điện năng có thể bị ngắt. Nhưng trong 70 năm liên tục, hoặc thậm chí 100 năm đối với một ít người, hoặc thậm chí 180 năm đối với rất ít người, bản năng vẫn cứ hoạt động hoàn hảo. Điện năng không bao giờ bị ngắt. Không một lỗi lầm nào bị mắc phải; mọi thứ cứ theo kế hoạch, hoạch định cho từng tế bào của cơ thể bạn. Ngày mà chúng ta có thể giải mã được tế bào của con người, ngày ấy chúng ta sẽ có thể tiên đoán mọi thứ về đứa trẻ kể cả khi nó chưa ra đời, kể cả trước khi nó nằm trong tử cung người mẹ. Những tế bào của cha mẹ có chương trình, mà tuổi của bạn, sức khỏe của bạn, loại bệnh nào bạn sẽ mắc phải, thiên tư của bạn, trí thông minh của bạn, tài năng của bạn, toàn bộ số mệnh của bạn đều chứa trong chương trình đó.
Tương tự bản năng, nhưng ở thái cực khác của bản thể - phía bên kia tâm trí, thế giới của trí tuệ - là thế giới của trực giác.
Trực giác mở cánh cửa của nó qua thiền. Thiền đơn giản là gõ vào cánh cửa trực giác. Trực giác cũng hoàn toàn sẵn sàng. Nó không phát triển; bạn cũng thừa hưởng điều đó từ trải nghiệm. Trực giác là tâm thức, là bản thể.
Trí tuệ là tâm trí. Bản năng là thể xác. Và chỉ khi bản năng hoạt động hoàn hảo thay mặt thể xác, thì trực giác hoạt động hoàn hảo trong chừng mực liên quan đến tâm thức. Trí tuệ chỉ ở giữa hai thứ ấy - là lối dẫn để qua, cầu nối để qua. Song có nhiều người, nhiều triệu người, chẳng bao giờ qua cầu. Đơn giản là họ ngồi trên cầu mà cứ nghĩ rằng họ đã tới nhà.
Nhà còn ở bờ xa, bên kia cầu. Chiếc cầu nối bản năng và trực giác. Nhưng mọi thứ tùy thuộc vào bạn. Bạn có thể bắt đầu xây nhà ở trên cầu - thế thì bạn đã lạc lối.
Trí tuệ sẽ chẳng phải là ngôi nhà của bạn. Nó là công cụ quá nhỏ bé chỉ dùng để chuyển từ bản năng đến trực giác. Thế nên chỉ người sử dụng trí tuệ của mình để vượt ra ngoài nó mới được gọi là người thông tuệ.
Trực giác là trải nghiệm. Bản năng là tự nhiên. Trí tuệ chỉ mò mẫm trong bóng tối. Càng nhanh chóng vượt ra khỏi trí tuệ bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu; trí tuệ có thể là rào cản với những ai nghĩ rằng phía bên kia nó thì không có gì. Trí tuệ có thể là lối dẫn tuyệt vời với những ai hiểu rằng chắc chắn có gì đó ở phía bên kia.
Khoa học dừng lại ở trí tuệ - đó là lí do vì sao nó không thể phác họa bất cứ điều gì về tâm thức. Trí tuệ thiếu sự tỉnh thức của trực giác là một trong những thứ nguy hiểm nhất trên đời. Và chúng ta sống dưới những nguy cơ của trí tuệ bởi lẽ trí tuệ đã ban cho khoa học quyền lực to lớn. Nhưng quyền lực lại ở trong tay những đứa trẻ, không phải trong tay người thông thái.
Trực giác làm cho người ta thông thái - hãy gọi đó là chứng ngộ, gọi đó là giác ngộ; đơn giản những thứ đó là tên gọi khác của sự thông thái. Chỉ trong tay của thông thái thì trí tuệ mới có thể được sử dụng như kẻ phục vụ tuyệt vời.
Cả bản năng lẫn trực giác hoạt động cùng nhau một cách hoàn hảo - một thứ ở mức vật chất, thứ kia ở mức tinh thần. Toàn bộ vấn đề của nhân loại bị kẹt cứng ở giữa, ở tâm trí, ở trí tuệ. Thế thì bạn sẽ đau khổ, bạn sẽ lo âu, bạn sẽ hấp hối, bạn sẽ vô nghĩa, và bạn sẽ căng thẳng đủ các kiểu mà chẳng thấy được bất kì giải pháp nào ở bất cứ đâu.
Trí tuệ khiến mọi thứ gặp vấn đề mà không biết chút giải pháp nào. Bản năng không bao giờ gây ra vấn đề và không cần bất cứ giải pháp nào; đơn giản nó hoạt động một cách tự nhiên. Trực giác là giải pháp thuần khiết, nó không có vấn đề gì. Trí tuệ chỉ toàn là vấn đề; nó không có giải pháp.
Nếu nhìn ngay vào phân loại, thật dễ hiểu: trừ phi bản năng có sẵn, bằng không bạn sẽ chết. Và trừ phi trực giác có sẵn, bằng không cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì - bạn chỉ kéo lê chuỗi ngày dài. Nó chỉ là một loại đời sống thực vật.
Trực giác mang lại ý nghĩa, sự chói sáng, niềm vui, phúc lành. Trực giác ban tặng những bí mật của hiện hữu, mang lại sự yên lặng, sự thanh bình vô cùng mà không bị quấy rầy, không thể bị tước đi.
Với bản năng và trực giác hoạt động cùng nhau, bạn cũng có thể dùng trí tuệ cho những mục đích đúng đắn. Bằng không, bạn chỉ có phương tiện chứ không có cứu cánh. Trí tuệ không có ý tưởng gì về cứu cánh. Điều ấy đã tạo nên tình trạng của thế giới ngày nay - khoa học cứ tiếp tục sản xuất ra những thứ mà nó không biết vì sao. Những chính khách cứ tiếp tục sử dụng những thứ mà không biết rằng chúng mang tính phá hủy, rằng chúng chuẩn bị cho cuộc tự sát toàn cầu. Thế giới cần một sự nổi loạn lớn lao, thứ mà có thể đem nó sang phía bên kia trí tuệ đi vào thinh lặng của trực giác.
Cần phải hiểu rõ từ “trực giác” (intuition). Bạn biết từ “giảng dạy” (tuition) - sự giảng dạy đến từ bên ngoài, ai đó dạy bạn - là thầy dạy. “Trực giác” có nghĩa là điều gì đó nảy sinh bên trong bản thể; nó là tiềm năng; đó là lí do vì sao nó được gọi là trực giác (intuition). Sự thông thái không bao giờ vay mượn được, và những gì được vay mượn thì không bao giờ thông thái. Trừ phi bạn có sự thông thái của chính mình, tầm nhìn của chính mình, sự trong trẻo của chính mình, nhìn bằng chính mắt mình; bằng không bạn sẽ không thể hiểu được bí ẩn của hiện hữu.
Trong chừng mực liên quan đến cá nhân mình, tôi tuyệt đối ủng hộ bản năng. Đừng quấy rầy nó.
Mọi tôn giáo đều dạy bạn quấy rầy nó - nhịn ăn là gì mà lại quấy rầy bản năng? Cơ thể bạn đói và đòi hỏi thức ăn, thế mà bạn lại nhịn đói vì những lí do tinh thần. Một loại tâm linh lạ lùng chiểm hữu bản thể. Đơn giản phải gọi đó là ngu muội chứ chẳng phải tâm linh. Bản năng đòi nước uống, nó khát; cơ thể cần nước. Song tôn giáo của bạn... Jaina giáo thậm chí không cho phép người ta uống nước vào ban đêm. Trong chừng mực liên quan đến cơ thể, nó có thể cảm thấy khát, đặc biệt vào mùa hè ở một nơi nóng nực như Ấn Độ. Vào thời thơ ấu của mình, tôi thường cảm thấy tội lỗi, bỏi lẽ tôi đã uống trộm nước vào ban đêm. Tôi không thể ngủ mà không uống nước ít nhất một lần vào những đêm hè nóng bức, nhưng tôi thường cảm thấy rằng mình đã làm điều gì đó đáng ra không nên làm, rằng mình đang phạm tội. Những ý tưởng quái lạ và ngu xuẩn được áp đặt lên người ta.
Tôi ủng hộ bản năng. Và đấy là một trong những bí mật mà tôi muốn bật mí với bạn: nếu hoàn toàn đứng về phía bản năng, bạn sẽ dễ dàng tìm được cách hướng về trực giác. Bởi lẽ cả hai thứ đều giống nhau, mặc dù hoạt động ở những mức khác nhau - một thứ hoạt động ở mức vật chất, thứ kia hoạt động ở mức tinh thần. Chấp nhận cuộc sống bản năng với niềm vui tuyệt đối, không mặc cảm tội lỗi, sẽ giúp bạn mở được cánh cửa của trực giác - bởi lẽ chúng không khác nhau, chỉ có mức độ của chúng là khác nhau thôi. Và chỉ khi bản năng hoạt động tốt đẹp, êm ái, không tiếng động, thì trực giác cũng hoạt động như thế, thậm chí còn êm ái hơn, tốt đẹp hơn nhiều.
Trí tuệ là sự xáo trộn. Nhưng nó phụ thuộc vào chúng ta, vào việc chúng ta làm nó xáo trộn hoặc dùng nó như bàn đạp. Khi bắt gặp một tảng đá trên đường, hoặc bạn có thể nghĩ nó là chướng ngại, hoặc bạn có thể dùng nó làm bàn đạp để bước lên nấc cao hơn, đối với những ai thật sự hiểu được việc sử dụng trí tuệ như bàn đạp. Song đám đông đều dưới sự kiểm soát của những tôn giáo đã răn dạy: “Dùng trí tuệ như sức mạnh chế ngự bản năng”. Người ta bị cuốn vào cuộc chiến chống lại bản năng và lãng quên trực giác. Toàn bộ năng lượng của họ bị cuốn vào cuộc chiến với chính sức sống của họ. Và khi đó họ mải miết chiến đấu với bản năng của họ.
Tu sĩ Jaina giáo phải ở trần quanh năm, kể cả trong những tháng mùa đông, kể cả trong đêm lạnh. Ông ta không được dùng nệm, ông ta không được dùng chăn, ông ta không được dùng bất cứ thứ gì để đắp lên người, ngày cũng như đêm. Ông ta phải nhịn ăn. Càng nhịn ăn lâu bao nhiêu, ông ta càng thánh thiện hơn bấy nhiêu trong mắt của những người khổ hạnh như ông ấy - 30 ngày, 40 ngày... Đấy là chống lại cơ thể. Đấy là chinh phục cơ thể và vật chất, đấy là dùng tinh thần để chinh phục thể xác. Đó là tình trạng chung của các tôn giáo, với những hình thức mê tín khác nhau. Họ biến năng lượng trí tuệ chống lại bản năng, và điều đó phá hỏng mọi khả năng nở hoa của trực giác.
Trực giác là đóa hồng huyền bí, đưa ta tới cõi cực lạc và bất tử. Song người ta dường như tuyệt đối nằm trong tay của cái quá khứ đã chết rồi. Bất luận những kinh sách cổ dạy điều gì, họ cứ làm theo, thậm chí không cần xem xét toàn bộ khoa học về con người.

Ba thứ đó là ba tầng của khoa học về con người. Bản năng phải được phép trong dòng chảy thanh thản. Đừng bao giờ quấy rầy nó bằng trí tuệ vì bất cứ lí do nào. Và trí tuệ phải được sử dụng như lối mở cho trực giác. Nó phải nhường lối cho trực giác để tiếp quản cuộc sống. Thế thì cuộc sống của bạn là cuộc sống đầy ánh sáng, hào quang. Nó trở thành lễ hội miên man.

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2018

Trực giác: hiểu biết ngoài tầm logic (002)

Lí trí là nỗ lực để biết cái chưa biết
còn trực giác là diễn biến của cái không thể biết.
Để thâm nhập vào cái không thể biết thì có thể,
nhưng để giải thích thì không thể.
Cảm nhận thì có thể,
giải thích thì không thể.

BẢN ĐỒ
Khi thể xác hoạt động tự phát,
đó được gọi là bản năng.
Khi linh hồn hoạt động tự phát,
đó được gọi là trực giác.
Chúng giống nhau
nhưng lại cách xa nhau quá.
Bản năng thì của thể xác - phần thô sơ;
còn trực giác thì của linh hồn - phần tinh tế.
Và giữa hai thứ là tâm trí - phần chuyên sâu
không bao giờ hoạt động tự phát.
Tâm trí nghĩa là tri thức.
Tri thức không bao giờ có thể tự phát,
Bản năng thì sâu hơn trí tuệ
còn trực giác thì cao hơn trí tuệ.
Cả hai đều vượt ra ngoài tầm trí tuệ, và cả hai đều tuyệt diệu.

KHỐI ÓC, CON TIM VÀ BẢN THỂ
Cá nhân bạn có thể phân chia được - chỉ với mục đích để hiểu nó; bằng không thì không có sự phân chia. Đó là một thể đơn nhất, toàn bộ khối óc, con tim và bản thể.
Trí tuệ là sự vận hành của đầu óc, bản năng là sự vận hành của cơ thể, còn trực giác là sự vận hành của con tim. Và đằng sau ba thứ đó là bản thể, phẩm chất của nó chỉ là nhân chứng.
Đầu óc chỉ nghĩ; vì thế nó không bao giờ đi tới kết luận. Nó nói ra lời, ngôn ngữ, logic, nhưng bởi lẽ nó không bám rễ vào thực tại, thế nên hàng ngàn năm tư duy triết học vẫn không cho chúng ta một kết luận nào. Triết học là bài tập lớn nhất của sự vô ích. Trí tuệ rất nhạy bén trong việc tạo ra những câu hỏi, rồi tạo ra những câu trả lời, thế rồi từ những câu trả lời đó lại phát sinh thêm những câu hỏi và những câu trả lời khác. Nó có thể tạo ra những cung điện ngôn từ, những hệ thống lí thuyết, song tất cả chỉ là không khí mà thôi.
Thể xác không thể dựa vào trí tuệ, bởi vì thể xác phải sống. Đó là lí do vì sao tất cả những chức năng thiết yếu của cơ thể đều nằm trong tay bản năng - chẳng hạn hít thở, nhịp tim, tiêu hóa thức ăn, tuần hoàn máu. Cả ngàn lẻ một quá trình diễn ra trong cơ thể mà trong đó ta không tham dự vào chút nào. Và thật tốt là tạo hóa ban cho cơ thể trí khôn của chính nó. Bằng không, nếu trí tuệ chăm lo cho cơ thể thì cuộc sống sẽ là điều bất khả! Bởi đôi khi ta có thể quên thở - ít ra là vào ban đêm, làm sao ta thở được trong khi ngủ say? Bạn đang rối bời với những ý nghĩ; trong lúc bối rối, ai sẽ lo chuyện tuần hoàn máu, lượng oxy đến những tế bào có chính xác hay không? Thức ăn có được phân tích thành những dưỡng chất cơ bản hay không, và những dưỡng chất cơ bản đó có được cung cấp đến nơi cần thiết hay không? Và toàn bộ khối lượng khủng khiếp công việc ấy đều do bản năng thực hiện. Bạn không cần thiết. Bạn có thể vẫn trong hôn mê nhưng cơ thể vẫn tiếp tục làm việc.
Tạo hóa đã trao tất cả những chức năng thiết yếu của cơ thể cho bản năng, và giữ lại tất cả những gì làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa... bởi lẽ nếu chỉ để tồn tại, chỉ để sinh tồn thì chẳng có ý nghĩa gì. Để cuộc sống có ý nghĩa, hiện hữu đã ban trực giác cho trái tim của bạn. Khả năng nghệ thuật, thẩm mĩ, tình yêu, tình bạn nảy sinh từ trực giác - mọi thể loại sáng tạo đều từ trực giác.
Nhưng thương trường thì không cần trực giác. Nó chẳng liên quan gì đến tình yêu, đến cảm xúc; nó liên quan đến những thứ cô đặc và trần tục. Trí tuệ hoạt động cho việc đó - nó là phần nông nhất. Trí tuệ thì dành cho cuộc sống trần tục với những thứ khác trong thương trường, trên thế giới, khiến bạn có khả năng thực hiện chức năng. Nó là toán học, là địa lí, là lịch sử, là hóa học - mọi khoa học và công nghệ do trí tuệ của bạn tạo ra. Logic và hình học thì hữu ích - song trí tuệ thì mù quáng. Đơn giản là nó vẫn cứ tạo ra những sự vật, song nó không biết liệu chúng được sử dụng để phá hủy hay để sáng tạo. Chiến tranh hạt nhân sẽ là cuộc chiến do trí tuệ tạo ra.
Trí tuệ có công dụng của nó, nhưng chẳng may nó lại trở thành ông chủ của toàn bộ bản thể. Điều đó gây ra phiền toái lớn cho thế giới.
Ông chủ thật sự ẩn núp sau ba thứ: thể xác, tâm trí, con tim. Ông chủ ẩn núp sau ba thứ - là bản thể bạn. Nhưng bạn không bao giờ hướng nội; mọi con đường của bạn đều hướng ngoại, mọi cảm giác của bạn đều hướng ngoại. Mọi thành tựu của bạn đều ở ngoài thế giới.
Trí tuệ hữu dụng trên thế giới, và tất cả những hệ thống giáo dục đều là những kĩ thuật để né tránh con tim và dồn năng lượng trực tiếp vào khối óc. Con tim có thể gây rắc rối cho khối óc - con tim không biết gì về logic. Con tim có một trung tâm chức năng hoàn toàn khác biệt, và đó là trực giác. Nó biết yêu, song tình yêu không phải là vật phẩm hữu dụng trên thế giới. Nó biết cái đẹp, song bạn sẽ làm gì với cái đẹp trong thương trường?
Những con người của trái tim - họa sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, vũ công, diễn viên - tất cả đều không duy lí. Họ sáng tạo ra cái đẹp kì vĩ, họ là những kẻ đam mê vĩ đại, nhưng họ tuyệt đối không phù hợp với xã hội được sắp xếp bởi đầu óc. Những nghệ sĩ hầu như được xem là bị xã hội ruồng bỏ, hơi man man, một loại người điên. Chẳng ai muốn con cái họ trở thành nhạc sĩ hay họa sĩ hay vũ công. Mọi người đều muốn chúng trở thành bác sĩ, kĩ sư, khoa học gia, bởi lẽ những ngành nghề ấy sinh lợi. Hội họa, thơ ca, khiêu vũ thì rủi ro, nguy hiểm - bạn có thể kết thúc sự nghiệp bằng nghề hành khất, thổi sáo kiếm tiền ngoài đường phố.
Con tim bị chối bỏ - và nhân tiện, sẽ hữu ích để nhớ rằng sự chối bỏ con tim là chối bỏ người phụ nữ. Trừ phi con tim được chấp nhận, bằng không người phụ nữ không thể được chấp nhận. Trừ phi con tim có cùng cơ hội phát triển như đầu óc, bằng không người phụ nữ không thể có tự do. Phụ nữ là trái tim, đàn ông là đầu óc. Sự khác biệt thật rõ ràng.
Tự nhiên đã thu nạp bản năng trong tay nó. Và bất cứ khi nào bạn can thiệp vào bản năng, bạn gây ra sai lệch. Tất cả các tôn giáo đều làm điều đó; mọi tôn giáo đều can thiệp vào thể xác - mà thể xác thì tuyệt đối hồn nhiên, nó chưa từng bao giờ làm điều gì sai. Nếu chấp nhận thể xác tuyệt đối tự nhiên như nó vốn thế, nó sẽ giúp ích rất nhiều. Nó sẽ nâng đỡ trái tim, nuôi dưỡng trái tim. Nó sẽ giúp trí tuệ sắc sảo hơn, bởi sự nuôi dưỡng trí tuệ là từ thể xác, sự nuôi dưỡng trái tim là từ thể xác. Và nếu khối óc, con tim, thể xác - tất cả cùng hòa điệu, thế thì để tìm thấy bản thể là việc dễ nhất trần đời. Song bởi lẽ chúng xung đột, toàn bộ cuộc sống vẫn cứ phí hoài trong xung đột, xung đột giữa bản năng, trí tuệ và trực giác.
Một người khôn ngoan là người tạo ra được sự hài hòa giữa khối óc, con tim và thể xác. Trong sự hài hòa ấy, cội nguồn của cuộc sống con người được hiển lộ, trung tâm cốt lõi nhất - linh hồn. Và đó là cực lạc nhất trần đời - không chỉ cho mọi sinh linh mà còn cho toàn vũ trụ này, không gì hơn thế.
Tôi không chống lại bất cứ điều gì. Tôi chỉ chống lại sự phi hài hòa, và bởi lẽ đầu óc đang tạo ra trạng thái phi hài hòa nhất, tôi muốn đầu óc được đặt vào đúng chỗ của nó. Nó là kẻ hầu, chứ không phải là ông chủ. Nó thật tuyệt, thật hữu ích khi là kẻ hầu.
Một người giao sữa ở Dublin vừa xong việc giao hàng, thế nên anh ta dừng xe ngựa ngoài quán rượu và vào quán để uống. Chừng một giờ đồng hồ sau khi thư giãn, anh ta bước ra và thấy con ngựa của mình bị sơn màu xanh nhạt. Giận dữ, anh ta lao ngược vào quán và gặng hỏi: “Ai trong số các người dám sơn xanh ngựa của ta?”.
Một gã khổng lồ người Ireland chừng hai mét nhỏm dậy, đứng sừng sững trước mặt anh ta đáp: “Tao đấy. Mày định làm gì nào?”.
Người giao sữa nhe răng cười cầu tài và nói: “Tôi vào để báo anh biết là lớp sơn đầu đã khô rồi!”.
Trí tuệ thật hữu ích! Trong một vài tình huống bạn sẽ cần tới trí tuệ - song chỉ như kẻ hầu, chứ không phải ông chủ.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2017

Trực giác: hiểu biết ngoài tầm logic (001)


INTUITION: KNOWING BEYOND LOGIC
TRỰC GIÁC: HIỂU BIẾT NGOÀI TẦM LOGIC
by Osho
Lời người dịch
A rose is a rose is a rose... - hoa hồng là hoa hồng là hoa hồng... - câu trích dẫn nổi tiếng của nữ văn sĩ Mĩ gốc Do Thái Gertrude Stein (1874-1946); cho dù người ta có gọi nó là hoa huệ hay hoa nhài thì hoa hồng vẫn chỉ là hoa hồng mà thôi!
Sự vật luôn mang bản chất như nó vốn thế và Osho không cố thuyết phục người khác điều gì, như ông thường nói:
“... Khi bạn đến với tôi, hãy ở bên tôi. Và tôi không nói rằng bạn phải đồng ý với tôi, hãy nhớ rằng chẳng có vấn đề đồng ý hay không đồng ý gì ở đây.
Khi bạn thấy đóa hồng, bạn đồng ý hay không đồng ý với nó? Khi bạn thấy bình minh, bạn đồng ý hay không đồng ý? Khi bạn thấy trăng đêm, đơn giản là bạn thấy nó! Cho dù bạn thấy hay không thấy nó, chẳng có vấn đề đồng ý hay không đồng ý gì hết.
Tôi không cố thuyết phục bạn bất cứ điều gì. Tôi không cố lôi kéo bạn đến một lí thuyết, một triết lí, một giáo điều, một giáo hội nào đó, không hề! Đơn giản là tôi chia sẻ những gì xảy ra với tôi, và trong sự chia sẻ ấy, nếu bạn tham gia, nó có thể cũng xảy ra với bạn. Nó được lan truyền.
Sự thấu hiểu được chuyển biến.”
Xin giới thiệu với quý độc giả bài nói chuyện của Osho về “trực giác”, thường được gọi là “giác quan thứ sáu” hay “tiếng nói nội tâm” hay “người dẫn đường bên trong”.
Phạm Ngọc Thạch


 LỜI NÓI ĐẦU
Không thể giải thích trực giác một cách khoa học được, bởi lẽ chính hiện tượng ấy vốn dĩ phi khoa học và phi lí. Bản thân hiện tượng trực giác là phi lí. Về mặt ngôn ngữ thì câu hỏi: “Có thể giải thích trực giác được không?” xem ra không có vấn đề gì. Song nó lại ngụ ý: “Trực giác có thể quy về trí tuệ được không?”. Trực giác là một thứ vượt ra ngoài trí tuệ, một thứ không thuộc về trí tuệ, một thứ xuất phát từ nơi mà trí tuệ hoàn toàn không nhận thức được. Thế nên trí tuệ có thể cảm nhận được nó chứ không thể giải thích được.
Cú nhảy đột ngột của trực giác có thể cảm nhận được bởi vì có một khoảng trống. Trực giác có thể cảm nhận được bằng trí tuệ - nó có thể được ghi nhận là có điều gì đó đã xảy ra - song không thể giải thích được, bởi lẽ giải thích cần nguyên cớ. Giải thích nghĩa là trả lời câu hỏi nó từ đâu tới, tại sao nó tới, nguyên nhân là gì. Và nó tới từ một nơi nào khác, chứ không phải từ chính trí tuệ - thế nên không có nguyên nhân từ trí tuệ. Không lí do, không kết nối, không liên tục bên trong trí tuệ.
Trực giác là một địa hạt khác của diễn biến không liên quan đến trí tuệ chút nào, mặc dù nó có thể thâm nhập vào trí tuệ. Phải hiểu là một thực thể cao hơn có thể thâm nhập vào thực thể thấp hơn, nhưng thứ thấp hơn không thể thâm nhập vào thứ cao hơn được. Thế nên trực giác có thể thâm nhập vào trí tuệ bởi lẽ nó cao hơn, nhưng trí tuệ không thể thâm nhập vào trực giác là vì nó thấp hơn.
Tương tự, tâm trí có thể thâm nhập thể xác, nhưng thể xác không thể thâm nhập vào tâm trí được. Bản thể có thể thâm nhập vào tâm trí, nhưng tâm trí không thể thâm nhập vào bản thể được. Đó là lí do vì sao nếu đi vào bản thể, bạn phải tách mình ra khỏi cả thể xác lẫn tâm trí. Chúng không thể thâm nhập vào hiện tượng cao hơn được.
Khi bạn đi vào thực thể cao hơn, thế giới thấp hơn của những diễn biến phải được buông bỏ. Không có sự giải thích cho cái cao hơn trong cái thấp hơn, bởi lẽ chính những thuật ngữ giải thích không tồn tại ở đó; chúng vô nghĩa. Song trí tuệ có thể cảm nhận được khoảng trống, nó có thể biết được khoảng trống. Nó có thể đi tới cảm nhận là “điều gì đó đã xảy ra ngoài tầm của tôi”. Giả như có thể làm được nhiều hơn thì trí tuệ đã làm nhiều hơn rồi.
Song trí tuệ cũng có thể bác bỏ những gì xảy ra. Đó là điều được ngụ ý bằng có đức tin hay không có đức tin. Nếu bạn cảm thấy điều gì không thể giải thích được bằng trí tuệ thì không tồn tại, thế thì bạn là “người vô thần”. Thế thì bạn sẽ tiếp tục ở hiện hữu thấp hơn của trí tuệ, bị buộc chặt vào nó. Thế thì bạn không công nhận điều huyền bí, thế thì bạn không cho phép trực giác lên tiếng với bạn.
Đấy là bản chất của người duy lí. Người duy lí thậm chí sẽ không thấy có điều gì đến từ cõi khác. Nếu được đào tạo một cách duy lí, bạn sẽ không công nhận tầng cao hơn, sẽ chối bỏ nó, bạn sẽ bảo: “Không thể nào. Nó ắt là tưởng tượng; nó phải ở trong mơ. Trừ phi tôi có thể chứng minh nó một cách duy lí, còn thì tôi sẽ không chấp nhận nó”. Tâm trí duy lí trở nên khép kín, đóng chặt trong giới hạn của lập luận, và trực giác không thể thâm nhập được.
Song có thể sử dụng trí tuệ mà không cần phải khép kín. Thế thì có thể dùng lí trí như một công cụ và vẫn cởi mở. Bạn tiếp nhận cái cao hơn; nếu điều gì đó đến, bạn tiếp nhận. Thế thì bạn có thể dùng trí tuệ của mình như sự trợ giúp. Nó ghi nhận là “điều gì đó đã xảy ra ngoài tầm của tôi”. Nó có thể giúp bạn hiểu được khoảng trống ấy.
Ngoài ra, trí tuệ có thể dùng để diễn đạt - không phải giải thích mà là diễn đạt. Một vị phật không “giải thích” điều gì. Ngài diễn đạt chứ không giải thích. Tất cả những bộ Áo nghĩa thư (Upanishads) đều diễn đạt chứ không hề giải thích. Chúng nói: “Đấy là như thế, đấy là như vậy; đấy là điều xảy ra. Nếu muốn, hãy bước vào. Đừng đứng ngoài; không thể có lời giải thích từ bên trong cho người ngoại cuộc. Thế nên hãy bước vào - hãy làm người trong cuộc.”
Thậm chí nếu vào trong, sự việc cũng không được giải thích; bạn sẽ tới để biết và cảm nhận chúng. Trí tuệ có thể cố hiểu, song nhất định nó sẽ thất bại. Cấp cao hơn không thể quy về cấp thấp hơn được.
Trực giác du hành không cần bất cứ phương tiện nào - đó là lí do vì sao nó là bước nhảy; là cú nhảy đột ngột. Nó là bước nhảy từ một điểm đến một điểm khác mà không hề có sự tương kết giữa hai điểm. Nếu tôi tiến tới chỗ bạn từng bước một, đó không phải là bước nhảy. Chỉ khi tôi tới chỗ bạn không cần bước nào, đó mới là bước nhảy. Và một bước nhảy thật sự thậm chí còn sâu xa hơn. Nó có nghĩa là thứ gì đó tồn tại ở điểm A, thế rồi nó cũng tồn tại ở điểm B, mà giữa hai điểm không có sự tồn tại nào. Đó là bước nhảy thật sự.
Trực giác là bước nhảy - nó không phải là thứ tới trong từng bước. Nó là điều xảy ra với bạn, chứ không đến với bạn - điều xảy ra không có tính nhân quả từ đâu, không biết cội nguồn từ đâu. Xảy ra bất thình lình nghĩa là trực giác. Nếu nó không đột ngột, không hoàn toàn cắt đứt với những gì đã xảy ra trước kia, thế thì lí trí sẽ khám phá ra con đường. Có thể mất thời gian, song lí trí có thể làm được. Lí trí sẽ có khả năng biết, hiểu và kiểm soát nó. Thế thì vào một ngày nào đó, một công cụ sẽ được phát triển, tương tự như radio hay tivi, có thể bắt được tín hiệu của trực giác.
Nếu như trực giác đến qua dạng tia hay dạng sóng, thế thì chúng ta có thể chế tạo thiết bị để thu chúng. Nhưng không thiết bị nào có thể thu được trực giác bởi nó không là hiện tượng sóng. Nó chẳng là hiện tượng nào cả; nó chỉ là cú nhảy vọt từ hư vô đến hiện hữu.
Trực giác nghĩa là như thế đó - đó là lí do vì sao lí trí chối bỏ nó. Lí trí chối bỏ nó vì lí trí không có khả năng chạm trán với nó. Lí trí chỉ có thể bắt gặp những hiện tượng mà có thể phân chia thành nguyên nhân và hậu quả.
Theo lí trí thì có hai địa hạt của sự tồn tại, cái biết và cái chưa biết. Mà cái chưa biết có nghĩa là điều còn chưa biết, nhưng một ngày nào đó sẽ trở thành cái biết. Song huyền môn nói rằng có ba địa hạt: cái biết, cái chưa biết và cái không thể biết. Nhà huyền môn ngụ ý cái không thể biết là cái không bao giờ có thể biết được.
Trí tuệ dính dáng đến cái biết và cái chưa biết, chứ không phải cái không thể biết. Còn trực giác hoạt động với cái không thể biết, với cái không bao giờ có thể biết được. Đó không phải chỉ là vấn đề thời gian trước khi nó sẽ thành cái biết - tính không thể biết được là phẩm chất cơ bản của nó. Không phải là chuyện thiết bị chưa đủ tốt hoặc logic chưa được cập nhật, hoặc toán học còn sơ khai - đó không phải là vấn đề. Phẩm chất cơ bản của cái không thể biết là tính không thể biết được; nó sẽ luôn tồn tại như cái không thể biết.
Đấy là địa hạt của trực giác.
Khi một thứ từ không thể biết tiến tới được biết, đó là bước nhảy - không có liên kết, không có lối dẫn, không từ một điểm tới một điểm khác. Song nó dường như không thể hiểu được, thế nên khi tôi nói bạn có thể cảm nhận nó nhưng bạn không thể hiểu được nó, khi tôi nói những điều như vậy, tôi biết rất rõ là tôi đang phát biểu điều vô nghĩa. “Vô giác” chỉ có nghĩa là những gì chúng ta không thể hiểu được bằng giác quan. Mà tâm trí là một giác quan, giác quan tinh tế nhất.
Trực giác là có thật bởi cái không thể biết là có. Khoa học chối bỏ sự hiện hữu của thần thánh bởi nó nói: “Chỉ có một sự phân chia: cái biết và cái chưa biết. Nếu có bất cứ thượng đế nào, chúng ta sẽ khám phá ra qua những phương pháp thí nghiệm. Nếu ông ta tồn tại, khoa học sẽ khám phá ra”.
Ngược lại, nhà huyền môn nói: “Bất luận bạn làm gì, có điều gì đó trong nền tảng của hiện hữu vẫn còn là điều không thể biết được - điều huyền bí”. Và nếu những nhà huyền môn không đúng, thế thì tôi nghĩ là khoa học sẽ phá hủy toàn bộ ý nghĩa của cuộc sống. Nếu không có điều huyền bí, thì toàn bộ ý nghĩa của cuộc sống sẽ bị phá hủy và toàn bộ cái đẹp sẽ bị phá hủy.
Cái không thể biết được là cái đẹp, là ý nghĩa, là khát vọng, là mục tiêu. Cuộc sống có ý nghĩa bởi vì có những điều không thể biết được. Khi mọi thứ đều được biết, thế thì mọi thứ đều phẳng dẹt. Bạn sẽ ngấy, sẽ chán nản.
Cái không thể biết là bí mật; tự thân nó là cuộc sống.
Tôi sẽ nói thế này:
Lí trí là sự nỗ lực để biết cái chưa biết, còn trực giác là diễn biến của cái không thể biết được. Để thâm nhập vào cái không thể biết thì có thể nhưng để giải thích nó thì không.

Cảm nhận thì có thể, giải thích thì không. Càng cố giải thích bao nhiêu, bạn càng trở nên khép kín bấy nhiêu, thế nên đừng cố làm gì. Cứ để lí trí hoạt động trong lãnh vực của nó, song luôn nhớ rằng còn có những địa hạt sâu hơn. Có những lí trí sâu hơn mà lí trí không thể hiểu được. Những lí trí cao hơn mà lí trí không thể nhận thức được.

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Đạo: Con đường không lối (01d)



ĐẠO: CON ĐƯỜNG KHÔNG LỐI
Phạm Ngọc dịch từ “Tao: The Pathless Path”, Renaissance Books, St. Martin's Press, New York © 2002
Câu chuyện ngụ ngôn:
Trên đường đến nước Vệ, Liệt Tử dừng chân dùng bữa bên vệ đường thì thấy một chiếc sọ người độ trăm tuổi. Bẻ một nhánh cây chỉ vào chiếc sọ, quay sang môn đệ là Bách Phong ông bảo: “Chỉ ông ấy và ta biết rằng anh bất sinh bất diệt. Phải chăng ông ấy thật sự đau khổ, phải chăng chúng ta thực sự hạnh phúc?”
Một câu nói rất bí ẩn - một mật mã phải được giải mã. “Chỉ ông ấy và ta biết” - Liệt Tử nói, chỉ vào chiếc sọ người độ trăm tuổi - “rằng anh bất sinh bất diệt”. Vì sao ông bảo “Chỉ ông ấy và ta biết”? Chiếc sọ đã chết một cái chết không tự nguyện, còn Liệt Tử đã chết một cái chết tự nguyện - cả hai đều chết theo một cách nào đó. Liệt Tử đã chết qua thiền. Liệt Tử đã chết vì ông không còn bản ngã nữa, vì ông không còn tách rời khỏi cái toàn thể, vì ông không còn nữa. Đấy là cái chết thực, thật ra còn sâu hơn cái chết của chiếc sọ. Không thật chắc chắn là liệu người chết, người có chiếc sọ nằm đó một trăm năm, có biết không. Điều đó không chắc - người đó có thể không biết, người đó có thể biết. Nhưng điều chắc chắn là Liệt Tử biết: cái chết của ông là có ý thức.
Nhưng ông sử dụng tình huống. Chuyện ngụ ngôn sử dụng tình huống. Đệ tử Bách Phong của ông ngồi bên cạnh, chiếc sọ nằm đó, và ông chỉ vào chiếc sọ: “Chỉ ông ấy và ta biết rằng anh bất sinh bất diệt.”
Ai chết? Và ai được sinh? Bản ngã được sinh và bản ngã chết. Sâu bên dưới, nơi bản ngã không còn nữa, bạn bất sinh bất diệt. Bạn vĩnh hằng, bạn là vĩnh hằng, bạn là thể nền, là chính chất liệu mà hiện hữu được tạo nên - làm thế nào bạn có thể chết được? Nhưng bản ngã được sinh ra và bản ngã chết đi.
Bạn bất sinh bất diệt, nhưng làm cách nào để biết điều đó? Bạn có muốn đợi cho tới khi cái chết đến không? Điều đó rất rủi ro, bởi vì nếu bạn sống toàn bộ cuộc sống của bạn một cách vô ý thức, chẳng có mấy khả năng bạn có thể trở nên có ý thức khi bạn chết đâu. Điều đó bất khả nếu toàn bộ cuộc sống của bạn là chuỗi tiếp nối của việc sống vô ý thức - bạn sẽ chết một cách vô ý thức, bạn sẽ không có khả năng biết được. Bạn sẽ chết trong cơn mê, bạn sẽ không có khả năng quan sát và thấy điều xảy ra. Bạn thậm chí không có khả năng thấy được cuộc sống, thế thì làm sao bạn có thể thấy cái chết? Cái chết tinh tế hơn nhiều.
Nếu bạn thực sự muốn biết, thế thì bắt đầu trở nên tỉnh thức đi, nhận thức đi. Sống một cách ý thức, học ý thức, tích lũy ý thức. Trở thành ngọn lửa lớn của ý thức; thế thì khi cái chết đến, bạn sẽ có khả năng chứng kiến nó, bạn sẽ có khả năng thấy nó và bạn sẽ biết: “Thân xác đang chết, bản ngã đang chết, nhưng ta không chết vì ta là nhân chứng”. Nhân chứng là cốt lõi nhất của hiện hữu. Nhân chứng là thứ mà những tôn giáo khác gọi là “Thượng đế” và là thứ mà Liệt Tử và Trang Tử gọi là “Đạo” - người biết, yếu tố biết, tâm thức, giác ngộ, tỉnh thức.
Hãy bắt đầu sống cuộc sống có ý thức. Làm bất cứ điều gì bạn đang làm, nhưng hãy làm cứ như thể bạn là nhân chứng của nó - quan sát nó, im lặng theo dõi nó. Đừng bị lạc vào trong sự vật; vẫn tỉnh táo, vẫn ở ngoài. Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ: bước trên đường, ăn, tắm, nắm tay người bạn, nói chuyện, lắng nghe - những việc nhỏ, nhưng hãy tỉnh táo. Bạn sẽ quên và lại quên. Nhặt nó lên lần nữa, tìm ra nó lần nữa, nhớ nó lần nữa. Đấy là điều Phật gọi là Chánh niệm, còn Gurdjieff gọi là Tỉnh thức. Cứ nhớ rằng bạn là nhân chứng. Lúc đầu điều đó gian nan, khó nhọc, bởi giấc ngủ của chúng ta dài. Chúng ta đã ngủ trong nhiều kiếp; chúng ta đã trở nên quen với ngủ, chúng ta ngáy, một cách siêu hình. Điều đó khó khăn, nhưng nếu bạn cố gắng, dần dần từng tia sáng tỉnh thức sẽ rọi vào bản thể của bạn. Điều đó khả dĩ - có khó khăn nhưng khả dĩ, không phải là bất khả. Và đấy là thứ giá trị nhất trong cuộc sống.
“Chỉ ông ấy và ta biết rằng anh bất sinh bất diệt”. Tôi biết bạn sẽ không bao giờ chết, vì bạn chưa từng được sinh ra, nhưng bạn không biết điều đó. Sự biết của tôi sẽ không ích gì cho bạn - bạn phải biết nó. Nó phải trở thành sự thấu hiểu riêng của bạn, ánh sáng soi rọi lên bản thân bạn.
“Phải chăng ông ấy thực sự đau khổ, phải chăng chúng ta thực sự hạnh phúc?” Thế rồi ông đặt câu hỏi cho môn đệ của mình: Ai hạnh phúc? Những người đang sống hay những người đã chết? Ai thật sự đau khổ - những người đã chết hay những người đang sống? Và ai thật sự hạnh phúc? Rồi ông bỏ lửng câu hỏi. Nó là công án: môn đệ phải thiền tưởng về nó.
Chuyện ngụ ngôn không nói gì cả, nó đột ngột chấm dứt. Giờ đây môn đệ phải kết thúc nó. Giờ đây anh ta phải thiền, anh ta phải giác ngộ về cái chết, về cuộc sống, về tình thương, về điều này điều nọ. Rồi anh ta phải suy gẫm về câu hỏi: Ai thật sự hạnh phúc? Có phải bạn hạnh phúc chỉ là do còn đang sống hay không? Bạn không hạnh phúc, cả thế gian là bể khổ. Thế nên có thể suy ra một điều, và có thể suy ra một cách vô điều kiện, rằng chỉ là do còn đang sống không nhất thiết người ta đã hạnh phúc đâu. Đang còn sống thì không đủ để hạnh phúc - cần thêm điều gì đó mới là hạnh phúc, “cộng với” điều gì đó. Cuộc sống cộng với giác ngộ... thế thì hạnh phúc nảy sinh, bởi vì trong giác ngộ, trong ánh sáng của giác ngộ, bóng đen của bản ngã biến mất.
Giờ đây khi cuộc sống có thêm dấu cộng với giác ngộ, những điều lớn lao xảy ra. Thứ nhất, bản ngã biến mất, rồi cùng với bản ngã cái chết cũng biến mất, vì chỉ bản ngã mới có thể chết - vì bản ngã được sinh ra. Với bản ngã biến mất, sinh cũng biến mất, diệt cũng biến mất. Với bản ngã biến mất, sự tách rời của bạn khỏi hiện hữu cũng biến mất.
Đấy là ý nghĩa của đóng đinh lên thập giá: bản ngã bị đóng đinh. Khi Jesus bị đóng đinh, Chúa Kitô được sinh ra - đó là ý nghĩa của phục sinh. Một mặt là đóng đinh, mặt khác là phục sinh.
Hãy chết nếu bạn thực sự muốn sống - vô cùng nghịch lí, nhưng vô cùng đúng, tuyệt đối đúng. Khi bạn tồn tại, bạn không chết mà cũng không sống. Bạn lơ lửng ở giữa; vì thế mới đau khổ, căng thẳng, phiền não. Bạn bị chia tách: bạn không sống cũng không chết. Hoặc sống trọn vẹn, rồi bạn sẽ biết cuộc sống là gì; hoặc chết trọn vẹn, rồi bạn cũng sẽ biết cuộc sống là gì - bởi vì cánh cửa của Đạo mở toang với tính trọn vẹn.
Hãy trọn vẹn. Một người đang ngủ không thể trọn vẹn trong bất cứ cái gì. Bạn đang ăn, bạn không trọn vẹn ở đó; bạn đang nghĩ cả ngàn lẻ một điều, bạn đang mơ ngàn lẻ một giấc mơ, bạn chỉ đang ngốn như một cái máy. Bạn có thể làm tình với người đàn bà hay với người đàn ông của bạn - bạn không trọn vẹn ở đó. Bạn có thể nghĩ về người đàn bà khác, làm tình với vợ của bạn và nghĩ về người đàn bà khác. Hoặc bạn có thể nghĩ tới thị trường, hay tới giá cả của những thứ bạn muốn mua, hay về chiếc xe hơi, hay về căn nhà, hay cả ngàn lẻ một thứ - và bạn đang làm tình như một cái máy.
Hãy trọn vẹn trong hành động của bạn, và nếu bạn trọn vẹn bạn phải nhận thức; không ai có thể trọn vẹn mà không nhận thức. Trọn vẹn nghĩa là không có suy nghĩ khác. Nếu bạn đang ăn, đơn giản là bạn đang ăn; bạn trọn vẹn ở-đây-và-bây-giờ. Việc ăn là tất cả: bạn không chỉ ngốn mọi thứ, bạn tận hưởng nó. Tất cả thân, tâm, trí đều hòa nhịp trong khi bạn ăn: có hài hòa, nhịp điệu sâu lắng giữa ba tầng bản thể của bạn. Thế thì ăn trở thành thiền, đi trở thành thiền, chẻ củi trở thành thiền, gánh nước từ giếng về trở thành thiền, nấu ăn trở thành thiền. Những điều nhỏ bé được chuyển hóa, chúng trở thành những hành động chói sáng. Và từng hành động trở nên trọn vẹn đến mức từng hành động đều mang phẩm chất của Đạo.
Thế thì bạn vô vi khi bạn trọn vẹn. Thế thì Thượng đế mới là người làm, hay cái toàn thể là người làm - bạn chỉ là phương tiện, là lối chuyển. Và việc trở thành lối chuyển ấy là phúc lành, là ân sủng.